Chương 1 TONG QUAN VE HO DAO SAU Chương này bày một số đặc điểm của hố đào sâu, tình hình sử dụng ở Việt Nam và trên thế giới; phân tích, đánh giá một số nghiên cứu đã có trước đây về tính toán hồ đào sâu ôn định bằng tường chắn. Sơ lược một số phương pháp phân tích trong công tác thiết kế tường chắn hồ đảo sâu, qua đó nêu những vấn đề còn tồn tại để tập trung nghiên cứu, giải quyết. Đặc điểm của hố đào sâu Công tác đào sâu là loại công trình có giá thành cao, khối lượng công việc lớn, kỹ thuật phức tạp, vi ảnh hưởng lớn đến công trình xung quanh, sự cố hay xay ra, là một khâu khó về mặt kỹ thuật, đồng thời cũng là trọng điểm đề hạ thấp giá thành và bảo đảm chất lượng công trình. Công trình hố đào sâu đang phát triển theo xu hướng độ sâu lớn, diện tích rộng, quy mô công trình cũng ngày càng tăng lên.
Theo đà phát triển cải tạo các thành phố cũ, các công trình cao tầng, thường tập trung ở những khu đất nhỏ hẹp, mật độ xây dựng lớn, điều kiện thi công công trình ngầm đều rất khó khăn. Lân cận công trình thường có các công trình xây dựng vĩnh cửu, các công trình lịch sử, nghệ thuật bắt buộc phải được an toàn, yêu cầu đối với việc ôn định và khống chế chuyền dịch rất là nghiêm ngặt. Đảo hồ móng cho các tầng hầm trong điều kiện đất yếu, mực nước ngầm cao và các điều kiện hiện trường phức tạp khác rất dễ sinh ra, mất ổn định hố móng, thân cọc bị chuyển dịch vị trí, đáy hồ trồi lên, kết cấu chắn giữ bị hư hại nghiêm trọng. làm hư hại hố móng, uy hiếp nghiêm trọng các công trình xây dựng, các công trình ngầm và đường ống xung quanh.
Công trình hố đào sâu bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau như chắn đất, chống giữ, ngăn nước, hạ mực nước, đào đất. trong đó, một khâu nào đó gặp sự cố có thé sẽ dẫn đến cả công trình bị đỗ vỡ. Việc thi công hố móng ở các hiện trường lân cận như đóng cọc, hạ nước ngầm, đào đất. đều có thể sinh ra những ảnh hưởng hoặc khống chế lẫn nhau, tăng thêm các nhân tố để có thê gây ra sự cố.
Công trình hố móng có giá thành khá cao, nhưng lại chỉ là có tính tạm thời nên có khuynh hướng không muốn đầu tư chỉ phí nhiều. Nhưng nếu đề xảy ra sự có thì xử lý sẽ vô cùng khó khăn, gây ra tôn thất lớn về kinh tế và ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt xã hội. Phân loại hố đào Việc phân loại hố đào nông và sâu chỉ mang tính tương đối. Tezhaghi và Peck (1969) [24] cho rằng hố đảo lớn hơn 6 mét thì được gọi là hố đào sâu.
Tuy nhiên trong một vài trường hợp đặc biệt, khi độ sâu hố đào bé hơn 6 mét nhưng do được thi công trong điều kiện địa chất công trình và điều kiện thủy văn phức tạp thì cũng được phân tích như ứng xử của hồ đào sâu. Nếu phân biệt hố đào sâu theo phương thức đảo, người ta phân biệt hố đào sâu thành hai nhóm chuyên biệt sau: i) Đào không có chắn giữ: được sử dụng cho các nhu cầu hạ mược nước ngầm, đảo đất, gia cô nền và giữ mái dốc; ii) Đảo có chắn giữ: được sử dụng cho các kết cấu quay giữ, hệ thống chắn giữ, gia cô nên, quan trắc. Khi phân loại hố đào theo đặc điểm chịu lực của kết cấu, người ta chia hố đào thành hai nhóm sau: i) Kết cấu chắn giữ áp lực chủ động: có vai trò chịu tác dụng của phần áp lực chủ động tác động lên kết cấu thành hồ đảo, bao gồm các kết cấu phun neo dé chắn giữ, tường bằng đinh dat dé chắn giữ; ii) Kết cấu chắn giữ áp lực bị động: có vai trò chịu tác dụng của phần áp lực bị động tác động lên kết cấu thành hồ đào, bao gồm các kết cấu như cọc, bản, ống, tường và chống, hoặc sử dụng ngay bản thân kết cấu sàn tầng hầm tự chống đỡ ( top — down). Khi phân biệt hố đảo theo chức năng kết cấu, có thê phân chia kết cấu chắn giữ thành hai bộ phận sau đây: Bộ phận chắn đất, bao gồm: — Hệ tường thép, thắm nước có cọc thép chữ H, I có bản cài; hệ tường cọc nhồi liền kề nhưng không thật sự sát nhau, hệ cừ Larsen, cọc hai hành chắn đất, cọc nhồi kiều liên vòm, chắn giữ bằng đinh đất.
— Hệ tường bê tông cốt thép, ngăn nước có tường liên tục trong dat, coc, tường trộn xi măng dưới tầng đất sâu, giữa cọc đặt dày và bố trí thêm cột xi măng cao áp, tường vòm cuốn khép kín. Bộ phận chắn đất kiểu kéo giữ gồm kiêu tự đứng, thanh neo vào tầng đất, ông thép, thép hình chống đỡ, chống chéo, hệ dầm vòng chống đỡ. Phân loại tường chắn giữ hố đào sâu Tường chắn giữ có các loại chủ yếu sau đây: i) Tường chắn bằng xi măng đất trộn ở tầng sâu: dùng đề đào loại hỗ móng có độ sâu 3 đến 6 m; ii) Cọc bản thép: dùng cho loại hỗ móng có độ sâu từ 3 đến 10 m; ii) Tường cọc bản bê tông cốt thép: dùng cho loại hỗ móng có độ sâu 3 — 6 m; iv) __ Tường chắn bằng cọc khoan nhồi: đường kính 600 — 1000 mm, cọc dài 15 — 30 m, làm thành tường chắn theo kiểu hang cọc, trên đỉnh cung đồ dầm vòng bê tông cốt thép, dùng cho loại hỗ móng có độ sâu 6 — 13 m; v) Tường vây bê tông thép : sau khi đào thành hào móng thì đồ bê tông, làm thành tường chắn đất bằng bê tông cốt thép có cường độ tương đối cao, dùng cho hố móng có độ sâu từ 10 m trở lên hoặc trong điều kiện thi công tương đối khó khăn; vi) _ Giếng chìm và giếng chìm hơi ép: dùng trong đất yếu có mực nước ngầm cao dòng chảy mạnh, độ sâu hồ đào có thê từ 25 đến 30m.4 Giới thiệu và trình tự thiết kế một hố đào sâu Việc sử dụng phương pháp số vào việc mô phỏng ứng xử của cấu trúc đất đã được đi được một bước tiến dài đáng ghi nhận trong vòng 40 năm qua. Kỹ sư ngày nay đã có thể mô phỏng một cách chỉ tiết của quá trình xây dựng cho nhiều dạng công trình xây dựng thực tế như việc xây dựng đê đập, xây dựng hồ đào sâu, đường hằm hay nhiều dạng công trình mà bài toán biên dạng tĩnh hay dạng động .Kỹ sư có thê sử dụng một cách đa dạng công cụ phương pháp số này bao gồm như phần tử hữu hạn hay những dạng khác không phải là phần tử hữu hạn như là phần tử rời rạc.nhầm giải quyết bài toán cân bằng với điều kiện biên.
Có nhiều chương trình phân tích rất mạnh như ABAQUS, FLAC, PLAXIS được dùng đề nghiên cứu và thực hành trong lĩnh vực địa kỹ thuật. Kỹ sư có thé lựa chọn nhựng dạng mô hình đất phù hợp để mô phỏng phù hợp với từng dạng ứng xử của đất hay đá. Rõ ràng là thường thì kết quả xuất ra từ việc mô phỏng của phương pháp số khác với kết quả quan trắc ngoài hiện trường và trong từng giai đoạn. Do vậy cần có sự điều chỉnh đặc tính mô hình một cách phù hợp để đi việc gần với ứng xử thực tế của đất.
Do đó công việc cụ thể đòi hỏi người kỹ sư phải luôn học hỏi trong từng trường hợp thực tế cùng với kết quả quan trắc hiện trường cùng một việc điều chỉnh mang tính hệ thống để có thể đạt được một hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng các phần mềm từ mô phỏng bằng phương pháp số. 10 Vai trò của việc mô phỏng phương pháp phần tử hữu hạn trong bài toán phân tích bài toán hồ đào sâu và đạt được kết quả gần với kết quả quan trắc ngoài hiện trường. Ngày nay trong khi mô hình mô phỏng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong việc tính toán các bài toán địa kỹ thuật, nhìn tổng thể thì quá trình mô phỏng tương đối cứng nhắc và không đạt được sự gần đúng so với kết quả quan trắc ngoài hiện trường. Vì nhiều nguyên nhân: tính không đồng nhất của đất, tại từng điểm trong nền đất có lộ trình ứng suất không giống nhau dẫn đến sự thay đổi áp lực nước lỗ rỗng phức tạp (hệ số A của Skempton).
Vì thế để đạt được kết quả mô phỏng gần với kết quả thực tế cần một bài toán tính toán lặp và cập nhật liên tục, nó được trình bày đơn giản dưới biểu đồ sau : 11 1. Xác định bài toán cần phân tích và đánh giá vai trò của việc mô hình vy 2. Xác định đặc tinh đất từ thí nghiệm hiện trường và trong phòng Š 3. Lựa chọn mô hình ứng xử và đặc tính của vật liệu ` i ˆ Không châp nhận, chọn y lai m6 hinh va dac tinh vật liệu 4.
Giải quyết bài toán với điều biên bằng phương pháp phần tử hữu hạn Š 5. So sánh với kết quả quan trắc hiện trường, chấp nhận hay không? ` ;Cm 6. Áp dụng cho các bài toán tương tự trong tương lai Xác định bài toán cần phân tích và đánh giá vai trò của việc mô hình Việc bài toán được xác định và vai trò của mô hình vào bài toán này được cho là phù hợp. Chẳng hạn như bài toán đào sâu, việc mô phỏng bằng mô hình được dùng để đánh giá trước chuyển vị của nền đất.
Xác định đặc tính đất từ thí nghiệm hiện trường và trong phòng Thông qua thí nghiệm hiện trường hay thi nghiệm trong phòng từ mẫu đất lá về từ hiện trường để xác định đặc tính của đất và kiểm tra đặc tính chống cắt và biến dạng của đất. Lựa chọn mô hình ứng xử và đặc tính của vật liệu Một dạng mô hình vật liệu đất được lựa chọn đễ đại diện cho đặc tính ứng suất biến dạng và sức chịu tải của lớp đất đó. Giải quyết bài toán với điều biên bằng phương pháp phần tử hữu hạn Sử dụng các chương trình phần tử hữu hạn đề liên kết việc lựa chọn mô hình đất để mô phỏng dự kiến trong từng giai đoạn thi công. Từ phân tích của chương trình tính ra chuyển vị ngang và chuyên vị bề mặt.
So sánh với kết quá quan trắc hiện trường : Kết quả tính toán từ máy tính và quan trắc hiện trường cần phải được so sánh trong suốt quá trình thi công. Giá trị quan trắc thông thường nhất là chuyền vị ngang và chuyên vị đứng của nền đất.