Chương 1. Cơ sở lý luận về thực tiễn phân tích đóng góp của nhóm ngành công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế. Thực trạng đóng góp của nhóm ngảnh công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam Chương 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đóng góp của nhóm ngành công nghiệp đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỀN PHÂN TÍCH ĐÓNG GÓP CỦA NHÓM NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐẾN TĂNG TRUONG KINH TẾ 1.
KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm ngành công nghiệp Theo Từ điển bách khoa toàn thư: công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật Theo hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, ngành công nghiệp là một hoạt động sản xuất vật chất, bao gỏi ~ Khai thác của cải vật chất có sin trong thiên nhiên mà lao động của con người chưa tác động vào; - Chế biến những sản phẩm đã khai thác và chế biến sản phẩm của nông nghiệp, - Hoạt động sản xuất công nghiệp còn bao gồm cả việc sửa chữa máy móc thiết bị và vật phẩm tiêu dùng. Như vậy là tất cả các hoạt động khai thác chế biến và sửa chữa nói trên không kể qui mô, hình thức như thế nào, không kể với loại công cụ lao động.
gì, hoặc bằng cơ khí hiện đại, nửa cơ khí, hoặc bằng công cụ thô sơ dựa vào sức lao động và sự khéo léo của chân tay người lao động là chính, đều xếp. vào ngành công nghiệp. b, Phân biệt ngành công nghiệp với các ngành kinh tế khác ~ Ngành công nghiệp khác với ngành nông nghiệp: 10 Ngành nông nghiệp kết hợp lao động của con người, với quá trình phát triển tự nhiên của sinh vật để tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Trong quá trình làm ra sản phẩm, sức lao động của con người chỉ làm tăng thêm sức đinh dưỡng của sản phẩm nông nghiệp chứ không làm thay đổi cơ cấu, tính chất, hình thái, công dụng của sản phẩm như trong ngành công nghiệp.
~ Ngành công nghiệp khác với ngành xây dựng cơ bản: Ngành công nghiệp chủ yếu là khai thác và chế biến, còn ngành xây dựng cơ bản thì chủ yếu là xây và lắp. Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản ở trên một địa điểm nhất định, địa sản xuất đồng thời cũng là địa điểm tiêu dùng, địa điểm sản xuất thay đổi khi sản phẩm đã hoàn thành. Sản phẩm của ngành công nghiệp thì có thể di chuyền từ nơi này đến nơi khác, địa điểm sản xuất tương đối ồn định. Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản sản xuất đơn chiếc, mỗi lần sản xuất lại phải thiết kế và thi công.
Sản phẩm của ngành công nghiệp thì có thể sản xuất hàng loạt lớn, quy trình kỹ thuật sản xuất tương đối ôn định. ~ Ngành công nghiệp khác với ngành vận tải: Ngành công nghiệp làm ra sản phẩm mới cho xã hội, còn ngành vận tải hàng hóa không lảm ra sản phẩm mới cho xã hội mà chỉ làm tăng thêm giá trị của sản phẩm. ~ Ngành công nghiệp khác với ngành thương mại, dịch vụ: Ngành thương mại, dịch vụ không khai thác, chế biến hoặc sửa chữa sản phẩm của xã hội như ngành công nghiệp mả chỉ lảm nhiệm vụ phân phối và tiêu thụ hàng hóa. ~ Ngành công nghiệp khác với ngành phục vụ công cộng va phục vụ sinh hoạt: Ngành phục vụ công cộng và phục vụ sinh hoạt không lảm ra sản phẩm cho xã hội, mà chỉ phục vụ trực tiếp cho đời sống của con người.
Phân loại nhóm ngành công nghiệp Ngành công nghiệp vô cùng phong phú đa dạng nhưng theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam năm 2018 (VSIC 2018) của Tổng cục Thống kê, ngành công nghiệp được phân thành 04 nhóm ngành cấp 1: a. Khai khoáng Ngành này gồm: Khai thác khoáng tự nhiên ở dạng cứng (thanh và quặng), chất lỏng (dầu mỏ) hoặc khí (khí gas tự nhiên). Khai thác có thể được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau như dưới lòng đất hoặc trên bề mặt, khai thác đưới đáy bi Ngành này cũng gồm các hoạt động phụ trợ như chuẩn bị các nguyên liệu thô cho kinh doanh ví dụ nghiền, cắt, rửa sạch, phân loại, nung quặng, hóa lỏng gas và các nhiên liệu rắn. Công nghiệp chế biến, chế tạo Chế b , chế tạo gồm các hoạt động làm biến đôi về mặt vật lý, hóa học của vật liệu, chất liệu hoặc làm biến đổi các thành phần cấu thành của nó, dé tạo ra sản phẩm mới.
Vật liệu, chất liệu hoặc các thành phần đổi là nguyên liệu thô từ các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, khai thác mỏ hoặc quặng cũng như các các phẩm khác của hoạt động chí n. Những thay đối, đổi mới hoặc khôi phục lại hàng hóa thường được xem là hoạt động chế biến. Đầu ra của quá trình sản xuất có thể được coi là hoàn thiện dưới dạng là sản phẩm cho tiêu dùng cuối cùng hoặc là bán thành phẩm và trở thành đầu vào của hoạt động chế biến tiếp theo. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí Ngành này gồm: ~ Hoạt động phân phối năng lượng điện, khí tự nhiên, hơi nước và nước nóng thông qua một hệ thống ống dẫn, đường dây ôn định lâu dai (mang lưới).
Chiều dải của mạng lưới này không quan trọng, và bao gồm cả việc 12 cung cấp điện, khí đốt, hơi nước, nước nóng và các loại tương tự trong khu công nghiệp hoặc khu nha 6 cao ting; - Hoạt động cung cấp. n và ga, bao gồm thu thập, giám sát và phân phối điện, ga cũng như cung cấp hơi nước và điều hòa không khí. Cung cắp nước; hoạt động quản l và xửlý rác thải, nước thải Ngành này gồm: Các hoạt động liên quan đến quản lý (bao gồm khai thác, xử lý và loại bỏ) các loại rác như rác thải công nghiệp, rác thải gia đình thể rắn hoặc không phải rắn như cũng như các khu vực bị nhiễm bản. Đầu ra của quá trình xử lý rác hoặc nước thải có thể bị loại bỏ hoặc trở thành đầu vào.
của quá trình sản xuất khác. KHÁI NIỆM VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÃ 3 TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự gia tăng về mặt lượng của một nền kinh tế. Nó được đo bằng các chỉ tiêu khác nhau, như tông sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay thu nhập bình quân đầu người trên năm (GDP/người/năm, GNP/người/năm).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế là mức (%) được tăng thêm của sản lượng GDP, GNP, GDP/người. GNP/người của năm nảy so với năm trước. hay của giai đoạn nảy so với giai đoạn trước. Phân biệt tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Các thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế nhiễ lúc được sử dụng thay thế cho nhau trong một nội dung của một phạm vi nhất định nào đó.
Song giữa chúng có sự khác nhau về căn bản. Phát triển kinh tế bao hàm nhiều ý nghĩa rộng hơn. 13 Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Phát triên kinh tế bao hàm các sự tăng trưởng kinh tế tức là tăng về quy mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiền bộ vẻ xã hội.
Khái niệm phát triển kinh tế bao hàm các vấn đề cơ bản như sau: ~ Thứ nhất là mức độ gia tăng mở rộng sản lượng của quốc gia và sự tăng trưởng mức sản xuất, mức sống của quốc gia trong một thời gian nhất định. - Thứ hai là mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia. Trong đó quan trọng nhất là tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản lượng quốc dân. Mức độ tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân càng cao thẻ hiện mức phát triển càng cao.
- Thứ ba là sự tiến bộ về cơ cấu xã hội, đời sống xã hội, mức độ gia tăng thu nhập thực tế của người dân, mức độ công bằng xã hội của quốc gia. e Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) - Theo giáo sư David Begg trong tác pham Economics, éng cho rằng: “GDP Ia chỉ tiêu đo lường sản lượng được sản xuất ra trong nên kinh té trong nước, bắt kẻ ai sở hữu các yếu tố đầu vào sản xuất". Qua chỉ tiêu GDP, ông đã tính GDP theo ba cách tương đương: giá trị gia tăng trong sản xuất, thu nhập bao gồm cả yếu tố lợi nhuận và chỉ tiêu cuối cùng. ~ Theo Phan Công Nghĩa - Bùi Đức Triệu (năm 2012): “Tổng sản phẩm quốc nội GDP là chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống tài khoản quốc gia (SN4), là giá thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước, trong một thời kỳ nhất định".
Theo Tổng cục Thống kê: Tổng sản phẩm quốc nội (GPD - Gross Domestic Product) la gid trị hàng hóa cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất linh thường là một năm. Khái niệm GDP. 14 được Tổng cục Thống kê sử dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc, làm cơ sở để tính chỉ tiêu GDP của quốc gia và các địa phương khác. Thuật ngữ “hàng hóa cuối cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị sản phẩm hàng hóa vật chất và dịch vụ sử dụng ở khâu trung gian trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Mặc dù chỉ tiêu GDP chưa được toàn điện vì vẫn còn một số hạn chế như: GDP chưa phản ánh đầy đủ vai trò quan trọng của dịch vụ công trong quá trình phát triển kinh tế: sự khác biệt chất lượng phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, tài nguyên môi trường, không thể phản ánh một cách toàn diện những thay đổi của mức sống dân cư.