CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN HUYỆN TIỀN HẢI 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu đa dạng cảnh quan Khái niệm và thuật ngữ đa dạng cảnh quan lần đầu ti n đƣợc giới thiệu trong nghi n cứu “Đa dạng cảnh quan: Định nghĩa được ứng dụng cho Vườn Quốc gia Yellowstone” (Landscape Diversity: The Concept Applied to Yellowstone Park) vào năm 1982 của Romme và Knight.
Sau đó, một số nhà sinh thái cảnh quan ở Bắc Mỹ đã định nghĩa đa dạng cảnh quan theo hƣớng mở rộng hơn (Olsen và nnk, 1993; Aspinall, 1996; Robertson và Augspurger, 1999). Những nghi n cứu điển hình của Forman và Godron (1986), Forman (1995), Farina (1998) đƣa ra những kết luận về sự hình thành đa dạng cảnh quan xuất phát từ sự đối lập của hai quá trình: xáo động (disturbance) và phân mảnh (fragmentation). Hai quá trình này một mặt thúc đẩy sự đa dạng của xáo động, mặt khác lại giảm độ đa dạng sinh học và đa dạng cảnh quan. Chẳng hạn, Farina (1998) trong tác phẩm “Nguyên tắc và phương pháp trong sinh thái cảnh quan” (Principles and methods in landscape ecology) đã diễn tả một cách đơn giản sự tổng hợp của nhiều thành phần phức tạp trong cảnh quan; quá trình đan xen của các nhiễu động và sự phân mảnh của cảnh quan hình thành sự khác biệt về cấu trúc và chức năng của cảnh quan, là nguy n nhân tạo n n tính da dạng của cảnh quan.
Năm 2002, Gergal và Turner đã chỉ ra cách thức đơn giản xác định các hợp phần của cảnh quan và sắp xếp các nhóm đối tƣợng này trong cảnh quan. Nghi n cứu đã hƣớng dẫn cách thức thực hành các khái niệm và kỹ thuật trong lĩnh vực sinh thái cảnh quan. Tr n cơ sở những đánh giá cảnh quan về mặt kiểu loại, độ ƣu thế và độ đa dạng, hai tác giả đã xác định đƣợc tỷ lệ mức độ ảnh hƣởng của kiểu loại tới cấu trúc của cảnh quan. Các số liệu thống k về th ng tin này theo quan niệm của Romme và Knight (1982) đƣợc coi là sự m tả về đa dạng cảnh quan.
Năm 2003, hai nhà sinh thái cảnh quan ngƣời Pháp là Franqoise Burel và Jacques Baudry với tác phẩm “Sinh thái cảnh quan: Khái niệm, phương pháp và ứng dụng” (Landscape Ecology: Concepts, Methods and Applications) đã chỉ ra mối tƣơng quan giữa kích thƣớc và đa dạng cảnh quan dựa tr n sự khác biệt về cấu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trúc thảm thực vật trong cảnh quan. Nghi n cứu này cũng đã đề cập tới dự án “Chiến lược toàn châu Âu đảm bảo đa dạng sinh học và đa dạng cảnh quan” (The pan-European strategy for maintenance of biological and landscape diversity) của Li n minh Châu Âu theo bốn ti u chí: (i) làm giảm mối đe dọa tới đa dạng sinh học và cảnh quan tr n toàn châu Âu; (ii) tăng khả năng phục hồi đa dạng sinh học và đa dạng cảnh quan của khu vực; (iii) củng cố sự gắn kết về sinh thái; (iv) nâng cao nhận thức về duy trì tính đa dạng về cảnh quan và sinh học cũng nhƣ vai trò của con ngƣời trong đó. Đây là cơ sở cho ứng dụng học thuyết sinh thái cảnh quan cho việc quản l và thiết kế cảnh quan sau này. Murray Gray (2004) trong tác phẩm “Giá trị đa dạng địa học và bảo tồn các nhân tố vô sinh” (Geodiversity valuing and conserving abiotic nature) đã chỉ ra rằng sự đa dạng của đặc tính tự nhi n, sinh học và văn hóa tạo n n các giá trị của cảnh quan.
Tuy nhi n, tầm quan trọng của đa dạng cảnh quan cho phép xác định vị trí định cƣ và sử dụng cảnh quan một cách hiệu quả trong những điều kiện khác nhau (Midgley, 2001). Năm 2011, Donald McKenzie, Carol Miller và Donald A. Falk với tác phẩm “Sinh thái cảnh quan lửa rừng” (The landscape ecology of fire) đã tập trung khai thác đặc tính của đa dạng cảnh quan theo cấu trúc đứng và tập trung xác định “kích thƣớc phù hợp cho tất cả mục ti u quản l ”. Quá trình kiểm soát tính đa dạng của loài trong rừng đƣợc cho là có làm gia tăng khả năng phục hồi của cảnh quan, giảm ảnh hƣởng của xáo động.
Tuy nhi n, nghi n cứu lại kh ng minh chứng cụ thể đƣợc tính đa dạng trong cảnh quan có thể giúp giảm nguy cơ cháy rừng do biến đổi khí hậu. Tại Việt Nam, các nghi n cứu về đa dạng cảnh quan kh ng nhiều. Có thể kể đến c ng trình ti u biểu về l luận và thực tiễn nghi n cứu đa dạng cảnh quan đƣợc c ng bố tr n các hội thảo quốc gia và tạp chí khoa học chuy n ngành của một số nhà địa l tại Việt Nam. Phạm Hoàng Hải (2006) c ng bố c ng trình đầu ti n về phƣơng pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghi n cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam tại Hội nghị Khoa học Địa l toàn quốc lần thứ II.
Trong luận án Tiến sĩ địa l , Nguyễn An Thịnh (2007) đã phân tích định lƣợng mối quan hệ giữa đa dạng cảnh quan và đa dạng nhân văn tại vùng núi cao của tỉnh Lào Cai. Trong một c ng trình c ng bố tr n tạp chí Các khoa học Trái Đất, nhóm tác giả Trƣơng Quang Hải, Nguyễn An Thịnh và Nguyễn Thị Thúy Hằng (2008) đã tiến hành xây dựng một mô hình đa dạng cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam và ứng dụng nghi n cứu điển 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình tại khu vực có núi đá v i thuộc tỉnh Ninh Bình. Gần đây, các độ đo đa dạng cảnh quan đƣợc đề cập trong chuy n khảo “Cách tiếp cận mới trong mô hình hóa biến đổi cảnh quan: Tích hợp Viễn thám, GIS và phân tích Fractal” (A New Approach to Landscape Change Modeling: Integrating Remote Sensing, GIS and Fractal Analysis) do Nguyễn An Thịnh (2012) chủ bi n. Cũng trong năm này, Phạm Quang Tuấn, Nguyễn An Thịnh và Phạm Minh Tâm (2012) đƣa ra những phân tích đặc điểm đa dạng của cảnh quan khu vực phía Tây thành phố Hà Nội, trong đó đề cập tới đa dạng về các nhân tố thành tạo, đa dạng kiểu loại và đa dạng về định hƣớng sử dụng các cảnh quan.
Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Hồng Anh (2012) đã xác định nghĩa thực tiễn trong l luận về sự hòa hợp của đa dạng văn hóa tộc ngƣời và đa dạng tự nhi n vùng Bắc Trung Bộ. Nhìn chung, số lƣợng c ng trình nghi n cứu đa dạng cảnh quan tại Việt Nam kh ng nhiều. Thành lập bản đồ đa dạng cảnh quan ở các cấp lãnh thổ cũng đƣợc xem là một nhiệm vụ khó khăn cho các nhà nghi n cứu lĩnh vực này. Các công trình liên quan đến huyện Tiền Hải Nghi n cứu đầu ti n về khu vực nghi n cứu đƣợc đề cập trong các nghi n cứu khảo sát địa chất, địa vật l và khoan trong giai đoạn 1970.
Cấu trúc địa chất của miền Bắc Việt Nam li n quan đến việc đánh giá triển vọng dầu khí; cấu trúc địa chất sâu b n dƣới lớp phủ trầm tích Đệ Tứ của vùng trũng Hà Nội lần đầu ti n đƣợc nghi n cứu. Đây là nghi n cứu địa chất thời kỳ đầu ở Tiền Hải đã phát hiện đƣợc những hệ thống đứt gãy phức tạp (s ng Chảy, s ng Hồng, s ng L , Vĩnh Ninh,…), các dải nâng Kiến Xƣơng-Tiền Hải, cũng đã phát hiện nhiều cấu tạo đa dạng chịu tác động của các hoạt động kiến tạo mạnh mẽ… Các nghi n cứu về thạch học, trầm tích, cổ sinh (vi cổ sinh, bào tử phấn hoa…) đã cũng đƣợc triển khai (Glovenok V., L Văn Chân, 1966) trong đó phải kể đến c ng trình tổng hợp tài liệu đầu ti n là báo cáo “Cấu trúc địa chất và triển vọng dầu khí của miền trũng Hà Nội” của Kisliakov V. Những nghi n cứu sau này ở Tiền Hải tới từ những nghi n cứu cơ bản về địa chất và khoáng sản của Hoàng Thanh Cảnh (1975), Vũ Xuân Doanh (1975) về trầm tích than Neogen và tiềm năng khai thác than tại đây. Các nghi n cứu phần lớn chỉ tập trung vào khu vực Châu thổ s ng Hồng mà chƣa chú trọng nghi n cứu tới nghi n cứu khu vực một cách cụ thể.
Một số c ng trình của Nguyễn Thùy Dƣơng năm 2009 về “Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững” cũng đã bắt đầu nghi n cứu về đặc điểm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảnh quan của khu vực song chỉ mang tính đơn lẻ và thiếu tính cụ thể trong định hƣớng bảo vệ và sử dụng hợp l tài nguyên. Các c ng trình điều tra tổng hợp: “Điều tra tổng hợp vùng cửa sông ven biển châu thổ Bắc Bộ” do Vũ Trung Tạng chủ nhiệm (giai đoạn 1981-1985) là đề tài Nhà nƣớc đầu ti n phối hợp cùng tỉnh Thái Bình tiến hành thực hiện mục ti u quản l tài nguy n và bảo vệ m i trƣờng cho khu vực Tiền Hải. Đây là tiền đề cho nhiều nghi n cứu điều tra cơ bản sau này của Đoàn Bộ và Nguyễn Đức Cự (1996), Nguyễn Gia Thắng (1998)… tiếp tục thực hiện theo hƣớng khai thác và sử dụng hợp l tài nguy n dải ven biển. Gần đây nhất, Phạm Thế Vĩnh (2004) tiến hành nghi n cứu cảnh quan sinh thái dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ.
Nghi n cứu đã thành lập bản đồ cảnh quan với tỷ lệ 1:100.000 và đề xuất định hƣớng sử dụng hợp l lãnh thổ. Các c ng trình nghi n cứu hợp phần tự nhi n của lãnh thổ: Lịch sử hình thành và phát triển của huyện Tiền Hải đƣợc đề cập khá sớm trong các c ng trình về địa chất, địa mạo. Các nghi n cứu về địa chất Đệ tứ đồng bằng Bắc Bộ (Hoàng Ngọc Kỷ, 1977), sự tiến triển của đƣờng bờ biển Thái Bình trong Holocene muộn hiện đại và vấn đề quai đ lấn biển (Nguyễn Đức Khả, 1988), nghi n cứu lịch sử tiến hóa trầm tích Holocene châu thổ s ng Hồng (Doãn Đình Lâm, 2003)… đã làm sáng tỏ cơ chế hình thành lãnh thổ khu vực cửa s ng ven biển đồng bằng s ng Hồng. Do đặc điểm địa hình kh ng có sự phân hóa rõ rệt, điều kiện khí hậu của vùng đƣợc cho là tƣơng đối đồng nhất và ít đƣợc quan tâm nghi n cứu.