Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Đông có tiêu đề "Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam", được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Kế Tuấn, thuộc chuyên ngành Kinh tế công nghiệp (mã số: 62.01). Luận án được hoàn thành và bảo vệ vào năm 2011.
Về tính cấp thiết, văn bản chỉ rõ rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế diễn ra mạnh mẽ, nền kinh tế của các quốc gia chịu sự chi phối ngày càng sâu sắc từ các tập đoàn kinh tế đa quốc gia với mạng lưới công ty mẹ và chi nhánh phân bổ rộng khắp. Ngành may mặc Việt Nam giữ vai trò là ngành kinh tế chủ lực trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế, mang lại nguồn ngoại tệ lớn và góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Giai đoạn 2000 - 2008, ngành đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 20%/năm, liên tục giữ vị trí thứ hai trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực và đến năm 2009 đã vươn lên dẫn đầu cả nước về giá trị kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, sự phát triển này bộc lộ những điểm bất lợi lớn: ngành công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, giá trị nhập khẩu nguyên phụ liệu chiếm tới gần 60% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm may; phương thức xuất khẩu chủ yếu dừng lại ở hình thức gia công xuất khẩu (CMT), trong khi phần thương mại bán sản phẩm trực tiếp chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn. Việc phân tích hoạt động kinh doanh dựa trên lý thuyết chuỗi giá trị và tổ chức liên kết kinh tế là yêu cầu thực tiễn nhằm giúp các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhận diện đúng vị trí, điểm mạnh, điểm yếu để nâng cao tỷ suất giá trị gia tăng.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đó tại Việt Nam dù đã tiếp cận vấn đề phát triển dệt may hoặc phân tích chuỗi giá trị ở góc độ tổng quan nhưng chưa lượng hóa được cụ thể giá trị tạo ra ở từng công đoạn của chuỗi giá trị may xuất khẩu, đồng thời chưa gắn kết việc phân tích chuỗi giá trị với cách thức tổ chức các mối quan hệ liên kết kinh tế (liên kết dọc và liên kết ngang) của các doanh nghiệp may xuất khẩu.
Luận án xác định 04 mục đích nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa những lý thuyết có liên quan đến chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết của các doanh nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành may xuất khẩu của Việt Nam.
- Nhận xét về thực trạng việc tổ chức các quan hệ liên kết của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của ngành may xuất khẩu Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, mà chủ yếu là dựa vào tổ chức lại các quan hệ liên kết của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chuỗi giá trị và cách thức tổ chức quan hệ liên kết kinh tế của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian và chủ thể: Nghiên cứu tập trung vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng giới hạn phân tích ở sự tham gia của các doanh nghiệp may xuất khẩu tại Việt Nam, không đi sâu nghiên cứu việc tham gia của các doanh nghiệp hoặc tổ chức ở các quốc gia khác.
- Phạm vi thời gian: Luận án thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các nghiên cứu trong nước:
- Tác phẩm "Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả ngành may Việt Nam" của Phạm Thị Thu Phương (NXB Khoa học Kỹ thuật, 2000): Hệ thống hóa lý luận về hiệu quả phát triển ngành may, phân tích môi trường kinh doanh và bài học kinh nghiệm để đưa ra giải pháp chiến lược.
- Luận án tiến sĩ "Phương hướng và các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành công nghiệp Dệt - May trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam" của Dương Đình Giám (2001): Tập trung đánh giá thực trạng phát triển, làm rõ kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của ngành dệt may để đề xuất giải pháp phát triển.
- Công trình "Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập" của nhóm tác giả thuộc dự án hợp tác giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU, 2004): Chuyên đề "Ngành Dệt May Việt Nam: Giá trị gia tăng và chiến lược phát triển" đã phân tích phương thức gia công xuất khẩu (CMT) và xuất khẩu trực tiếp (FOB), từ đó kiến nghị chính sách phát triển công nghiệp dệt may.
- Báo cáo nghiên cứu "Chiến lược và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sau khi dỡ bỏ hệ thống hạn ngạch dệt may: một cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn cầu" do Phạm Thu Hương và cộng sự thực hiện (2006) trong khuôn khổ Dự án Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam - Đan Mạch: Khảo sát thực tế giai đoạn tháng 4 đến tháng 6 năm 2006, làm rõ hiện trạng tham gia chuỗi và nhu cầu chuyển đổi từ phương thức CMT sang FOB, song chưa lượng hóa được giá trị tạo ra ở mỗi công đoạn.
- Công trình "Đẩy mạnh việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (global value chain - GVC) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam" của nhóm tác giả Trường Đại học Ngoại thương (2008): Nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh nhưng vẫn chưa lượng hóa được phần đóng góp cụ thể của doanh nghiệp may Việt Nam trong toàn chuỗi.
- Bài báo khoa học "Tiếp cận chuỗi giá trị cho việc nâng cấp ngành dệt may Việt Nam" của nhóm tác giả Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng (Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Đại học Đà Nẵng, số 2(37), 2010): Vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu để giải thích sự chuyển dịch hệ thống sản xuất và thương mại dệt may quốc tế, đề xuất chính sách nâng cấp quá trình, sản phẩm và chức năng.
Các nghiên cứu quốc tế:
- Công trình "Vietnam’s Garment Industry: Moving up the Value Chain" của nhóm tác giả Hassan Oteifa, Dietmar Stiel, Roger Fielding, Peter Davies, đại diện Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và VCCI (1999, soát xét năm 2000) thuộc khuôn khổ dự án MPDF: Tìm hiểu các trở ngại liên quan đến hoạt động tác nghiệp và marketing của doanh nghiệp may tư nhân Việt Nam.
- Báo cáo "The global apparel chain: What prospects for upgrading by developing countries" của Appelbaum và Gereffi do UNIDO công bố (2003): Phân tích sự chuyển dịch sản xuất, thương mại và chiến lược công ty của ngành may mặc toàn cầu, phân biệt các mô hình cạnh tranh ở Đông Á, Mexico và Caribbean.
- Nghiên cứu "Vietnam in the global garment and textile value chain: implications for firms and workers" của Khalid Nadvi và John Thoburn (2003) thuộc Chương trình Toàn cầu hóa và Nghèo đói: Phân tích tác động của toàn cầu hóa đối với doanh nghiệp và lao động ngành dệt may Việt Nam, tập trung vào quan hệ với người mua toàn cầu và quan hệ giữa doanh nghiệp dệt với doanh nghiệp may.
- Bài báo "How do industry clusters success: a case study in China’s textiles and apparel industries" của Zhiming Zhang, Chester và Ning Cao (Tạp chí Quản lý và Công nghệ dệt may Trung Quốc, số 4, 2004): Phân tích sự thành công của cụm công nghiệp dệt may Wujiang (tỉnh Jiangsu, Trung Quốc) trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế.
- Báo cáo "Garment industry supply chain" của Celia Mather (NXB Đại học Manchester Metropolitan, 2004): Khảo sát chuỗi cung ứng toàn cầu của công ty GAP tại nhiều quốc gia châu Á (Trung Quốc, Hồng Kông, Bangladesh, Thái Lan, Pakistan, Philippines, Sri Lanka) nhằm tìm giải pháp cải thiện vị trí của người lao động.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Luận án kế thừa các khung lý thuyết quốc tế và kết quả nghiên cứu trong nước, tập trung giải quyết khoảng trống thực tiễn: phân tích chi tiết thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu gắn liền với việc lượng hóa cơ cấu chi phí, giá trị gia tăng ở các phương thức xuất khẩu (CMT, FOB I), đồng thời làm rõ bản chất các mối liên kết dọc, liên kết ngang của doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam để đưa ra giải pháp tái tổ chức liên kết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án hệ thống hóa các nền tảng lý luận chủ yếu sau:
- Phương pháp chuỗi (filière): Khởi xướng từ các học giả Pháp vào thập niên 1960 để phân tích hệ thống nông nghiệp, sau đó mở rộng vào thập niên 1980 sang hệ thống công nghiệp chế biến, thương mại và tiêu dùng nội địa. Phương pháp này tập trung đo lường dòng vào - ra, phân tách chi phí và thu nhập giữa các thành phần tham gia để đánh giá đóng góp vào GDP.
- Chuỗi giá trị theo Michael Porter (1985): Xem xét chuỗi giá trị ở cấp độ doanh nghiệp nhằm xác định lợi thế cạnh tranh. Mô hình phân chia hoạt động thành: (1) Hoạt động cơ bản (Hậu cần bên trong, Tác nghiệp, Hậu cần bên ngoài, Marketing và bán hàng, Dịch vụ); (2) Hoạt động hỗ trợ (Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp, Quản lý nguồn nhân lực, Phát triển công nghệ, Mua sắm).
- Chuỗi giá trị mở rộng theo Raphael Kaplinsky và Mike Morris (2001): Mở rộng chuỗi giá trị đơn giản (gồm 4 khâu: thiết kế/phát triển sản phẩm, sản xuất, marketing, tiêu thụ và tái sử dụng) thành chuỗi giá trị mở rộng có tính đến các liên kết dọc thượng nguồn (cung ứng nguyên vật liệu) và hạ nguồn (phân phối, bán lẻ).
- Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu của Gary Gereffi: Phân biệt hai loại hình chuỗi giá trị toàn cầu gồm chuỗi do người sản xuất chi phối (producer-driven) và chuỗi do người mua chi phối (buyer-driven). Ngành may mặc thuộc nhóm chuỗi giá trị do người mua chi phối.
Dưới đây là bảng tổng hợp đặc trưng của hai loại hình chuỗi giá trị theo phân tích của Gary Gereffi được luận án trích dẫn:
| Tiêu chí phân tích |
Chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối |
Chuỗi giá trị do người mua chi phối |
| Vốn chi phối |
Vốn công nghiệp |
Vốn thương mại |
| Yếu tố cạnh tranh cơ bản |
Nghiên cứu & Phát triển; Sản xuất |
Thiết kế; Marketing |
| Rào cản thâm nhập |
Quy mô của các nền kinh tế |
Phạm vi hoạt động của các nền kinh tế |
| Khu vực kinh tế |
Hàng hóa trung gian, hàng hóa tài chính; Hàng tiêu dùng lâu bền |
Hàng tiêu dùng mau hỏng |
| Các ngành điển hình |
Ô tô, máy tính, máy bay |
May mặc, da giày, đồ chơi |
| Chủ sở hữu |
Các công ty xuyên quốc gia (MNCs) |
Các công ty nội địa ở các nước đang phát triển |
| Liên kết mạng lưới sản xuất chủ yếu |
Đầu tư |
Thương mại |
| Cấu trúc sản xuất đặc thù |
Chiều dọc |
Chiều ngang |
- Quy trình phân tích chuỗi giá trị: Luận án tích hợp các phương pháp của Porter, Kaplinsky & Morris, dự án M4P và GTZ để xác lập quy trình phân tích gồm 4 bước:
- Bước 1: Xác định chuỗi giá trị cần phân tích (lựa chọn ngành/sản phẩm theo tiêu chí chiến lược, xác định mục tiêu và điểm bắt đầu phân tích).
- Bước 2: Lập sơ đồ chuỗi giá trị (thực hiện 5 công việc: nhận diện các quá trình chính; xác định đối tượng tham gia; xác định sản phẩm/dịch vụ; lập sơ đồ dòng luân chuyển địa lý; xác định các hình thức liên kết).
- Bước 3: Phân tích các quá trình của chuỗi giá trị (phân tích theo các chỉ tiêu: doanh thu/tổng giá trị đầu ra, giá trị gia tăng ròng, chi phí và lợi nhuận, công nghệ và kiến thức, việc làm, các mối liên kết).
- Bước 4: Rút ra các kết luận.
- Lý thuyết tổ chức quan hệ liên kết kinh tế: Liên kết kinh tế là sự phối hợp tự nguyện giữa các đơn vị kinh tế nhằm tối đa hóa hiệu quả hoạt động dựa trên hợp đồng kinh tế hoặc quy chế hoạt động. Luận án phân loại theo tiến trình sản xuất thành liên kết dọc (giữa nhà cung ứng - nhà sản xuất - khách hàng), liên kết ngang (giữa các đơn vị cùng vị trí trong chuỗi) và liên kết hỗn hợp; phân loại theo số lượng thành liên kết song phương và đa phương; phân loại theo mức độ gắn kết gồm quan hệ thỏa thuận một điểm (spot market), quan hệ mạng lưới (network) và hội nhập (integration).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp tiếp cận: Tư duy biện chứng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
- Nghiên cứu tại bàn (desk research): Thu thập dữ liệu thứ cấp từ sách, báo, tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo, niên giám thống kê và báo cáo của các cơ quan quản lý ngành.
- Điều tra khảo sát thực tế: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phát phiếu hỏi và phỏng vấn chuyên gia, nhà quản lý doanh nghiệp may xuất khẩu. Hình thức gửi phiếu gồm phát trực tiếp, gửi thư chuyển phát nhanh và fax. Mẫu điều tra thu về đạt 31 phiếu hợp lệ.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp từ 31 phiếu khảo sát được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 16 (SPSS 16). Dữ liệu phỏng vấn chuyên gia và các số liệu thứ cấp được tổng hợp bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh kinh tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết kinh tế của các doanh nghiệp
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu và tổ chức quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp.
Tác giả phân tích nguồn gốc khái niệm từ trường phái filière, mô hình chuỗi giá trị nội bộ của Michael Porter (với 5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động hỗ trợ), và cách tiếp cận mở rộng chuỗi giá trị toàn cầu của Kaplinsky & Morris (2001). Luận án làm rõ chuỗi giá trị toàn cầu là tiến trình kết hợp công nghệ với nguyên liệu và lao động xuyên quốc gia, trong đó các khâu R&D, thiết kế, phân phối và marketing tạo ra giá trị gia tăng cao nhất, trong khi khâu sản xuất và lắp ráp tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất.
Về phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị, chương này mô tả chi tiết quy trình 4 bước. Tác giả nhận diện chuỗi giá trị của doanh nghiệp may xuất khẩu bao gồm 6 quá trình chính: (1) Thiết kế; (2) Sản xuất nguyên phụ liệu; (3) Mua hàng; (4) May (cắt, may, hoàn thiện); (5) Xuất khẩu; (6) Marketing và phân phối. Đồng thời, tác giả chỉ ra các đối tượng tham gia, dòng luân chuyển sản phẩm theo không gian địa lý từ các trung tâm thiết kế (Luân Đôn, Paris, New York, Tokyo...), trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ...) đến các nước gia công (Việt Nam, Trung Quốc, Bangladesh, Campuchia...).
Về liên kết kinh tế, chương 1 khẳng định liên kết kinh tế và chuỗi giá trị là hai vấn đề có mối quan hệ tương hỗ: phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi phân tích các liên kết, ngược lại tổ chức liên kết kinh tế phải căn cứ vào mạng lưới của chuỗi giá trị. Tác giả luận giải bản chất, mục tiêu, nguyên tắc tự nguyện - bình đẳng - cùng có lợi, và cấu trúc của liên kết dọc, liên kết ngang, liên kết hỗn hợp.
Chương 2: Thực trạng chuỗi giá trị toàn cầu và quan hệ liên kết kinh tế của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về thực trạng ngành may xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2009, việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và thực trạng tổ chức các mối liên kết kinh tế:
- Quy mô và vị thế xuất khẩu: Ngành may xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu liên tục gia tăng và trở thành ngành dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu cả nước vào năm 2009. Tuy nhiên, đơn vị xuất khẩu chủ yếu chịu sự chi phối từ các thị trường nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản.
- Cơ cấu doanh nghiệp và sản phẩm: Doanh nghiệp dệt may bao gồm doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp cổ phần nhà nước (DNCPNN), doanh nghiệp ngoài nhà nước (DNNNN) và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Sản phẩm may xuất khẩu tập trung vào các mặt hàng truyền thống như áo sơ mi, quần jacket, hàng dệt kim.
- Nguyên liệu đầu vào và công nghiệp phụ trợ: Ngành may phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu. Giá trị nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu dệt may chiếm tới gần 60% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm may; tỷ lệ nội địa hóa ở mức thấp. Khâu dệt, nhuộm và sản xuất phụ liệu trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng và thời gian giao hàng. Chi phí nhân công ngành may của Việt Nam năm 2008 ở mức cạnh tranh so với một số nước trong khu vực nhưng năng suất lao động chưa tương xứng.
- Vị trí của doanh nghiệp may Việt Nam trong chuỗi giá trị: Luận án khẳng định các doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam chủ yếu tham gia vào khâu cắt - may - hoàn thiện (công đoạn gia công), tức phân đoạn tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất trong toàn bộ chuỗi giá trị toàn cầu. Khâu thiết kế mẫu mã và phân phối - bán lẻ gần như hoàn toàn do đối tác nước ngoài kiểm soát.
- Lượng hóa kết cấu giá theo phương thức xuất khẩu: Dựa trên mẫu khảo sát 31 doanh nghiệp (với tình huống nghiên cứu điển hình là mặt hàng áo sơ mi bình quân), luận án đã lượng hóa và so sánh kết cấu giá theo hai phương thức xuất khẩu chính:
- Phương thức CMT (Cut - Make - Trim): Doanh nghiệp Việt Nam chỉ nhận nguyên liệu từ khách hàng nước ngoài, thực hiện cắt, may, hoàn thiện; giá trị thu về chỉ bao gồm chi phí nhân công và một phần khấu hao máy móc, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu rất thấp.
- Phương thức FOB I: Doanh nghiệp tự mua nguyên phụ liệu theo chỉ định của khách hàng nước ngoài và thực hiện sản xuất; giá trị tạo ra có cải thiện hơn so với CMT nhưng quyền chủ động về nguồn nguyên liệu và giá bán vẫn thuộc về người mua quốc tế.
- Thực trạng các mối quan hệ liên kết kinh tế:
- Liên kết dọc: Mối liên kết giữa doanh nghiệp may với các nhà sản xuất nguyên phụ liệu trong nước còn rất lỏng lẻo. Doanh nghiệp may chủ yếu liên kết với các nhà cung ứng nước ngoài theo sự chỉ định của nhà nhập khẩu. Mối liên kết giữa doanh nghiệp may với các đơn vị thiết kế và phân phối quốc tế mang tính phụ thuộc một chiều, giao dịch chủ yếu dựa trên hợp đồng ngắn hạn.
- Liên kết ngang: Liên kết giữa các doanh nghiệp may xuất khẩu với nhau chủ yếu diễn ra dưới hình thức gia công lại khi quá tải đơn hàng hoặc hợp tác tạm thời. Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, tranh giành lao động và hạ giá gia công vẫn tồn tại phổ biến. Vai trò cầu nối của các hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), Hội Dệt May Thêu Đan TP. Hồ Chí Minh (AGTEX) và Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX) đã có đóng góp nhất định nhưng chưa hình thành được các cụm công nghiệp chuyên môn hóa hoàn chỉnh.
Chương 3: Giải pháp tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao vị thế và giá trị gia tăng của doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam:
- Định hướng phát triển và phân tích SWOT: Luận án xác định mục tiêu cụ thể của ngành dệt may trong giai đoạn tiếp theo; xây dựng ma trận SWOT chỉ rõ điểm mạnh (nguồn lao động khéo tay, chi phí cạnh tranh, uy tín giao hàng), điểm yếu (phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, năng lực thiết kế và marketing yếu, phương thức CMT chiếm đa số), cơ hội (thị trường quốc tế mở rộng sau hội nhập, xu thế dịch chuyển đơn hàng) và thách thức (áp lực cạnh tranh từ các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh; các rào cản kỹ thuật và quy tắc xuất xứ).
- Giải pháp đối với doanh nghiệp may xuất khẩu:
- Chuyển dịch phương thức sản xuất kinh doanh: Từng bước chuyển đổi từ gia công đơn thuần (CMT) sang sản xuất xuất khẩu trực tiếp (FOB cấp độ I và FOB cấp độ II), tiến tới sản xuất theo thiết kế riêng (ODM) và từng bước xây dựng thương hiệu riêng (OBM).
- Tổ chức lại chuỗi cung ứng và liên kết dọc: Thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn với các nhà sản xuất dệt, nhuộm và phụ liệu trong nước; chủ động tìm kiếm và đánh giá nhà cung cấp để giảm bớt sự phụ thuộc vào sự chỉ định của người mua.
- Củng cố liên kết ngang: Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp may trong việc phân chia đơn hàng lớn, chia sẻ thông tin thị trường, phối hợp đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống quản lý khách hàng (CRM).
- Nâng cấp công nghệ và quản trị: Đầu tư đổi mới công nghệ may, tự động hóa các khâu cắt và giác sơ đồ; ứng dụng hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP) để quản lý chi phí và quy trình sản xuất.
- Khuyến nghị đối với Nhà nước và các Hiệp hội:
- Đối với Nhà nước: Quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may (tập trung giải quyết vấn đề xử lý nước thải dệt nhuộm); cải cách thủ tục hải quan và thuế xuất nhập khẩu đối với nguyên phụ liệu; hoàn thiện chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ. Luận án phân tích kinh nghiệm phát triển cụm công nghiệp dệt may Wujiang (Trung Quốc) để đề xuất mô hình cụm công nghiệp dệt may phù hợp tại Việt Nam.
- Đối với các Hiệp hội (VITAS, AGTEX) và VINATEX: Nâng cao năng lực dự báo thị trường, xúc tiến thương mại quốc tế; làm đầu mối liên kết các doanh nghiệp hội viên hình thành chuỗi cung ứng trọn gói; tổ chức các chương trình đào tạo nhà thiết kế mẫu và cán bộ quản lý chuỗi cung ứng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các điểm mới chủ yếu về mặt học thuật và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ thêm khái niệm chuỗi giá trị và cách xác định chuỗi giá trị trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm cụ thể. Hệ thống hóa quy trình 4 bước và các tiêu chí phân tích chuỗi giá trị toàn cầu áp dụng cho ngành công nghiệp chế biến - chế tạo thâm dụng lao động.
- Về mặt thực tiễn:
- Xác định và mô tả rõ chuỗi giá trị của doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam, bao gồm việc lập sơ đồ 6 quá trình chính và phân định rõ đối tượng tham gia cùng các dòng sản phẩm/dịch vụ tương ứng.
- Đánh giá và lượng hóa cụ thể thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam thông qua khảo sát thực tế (với 31 phiếu hợp lệ được xử lý qua SPSS 16), chỉ rõ sự phân bổ chi phí, giá thành và giá trị gia tăng giữa phương thức gia công CMT và phương thức xuất khẩu FOB I trên trường hợp sản phẩm áo sơ mi bình quân.
- Đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức các mối liên kết kinh tế (liên kết dọc và liên kết ngang) của doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam, vạch rõ những mắt xích thiếu hụt và sự phụ thuộc vào người mua nước ngoài.
- Đề xuất hệ thống giải pháp có căn cứ khoa học nhằm tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu và tổ chức lại các quan hệ liên kết kinh tế, đặc biệt là định hướng phát triển cụm công nghiệp dệt may nhằm gia tăng giá trị nội địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi khảo sát: Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích sự tham gia từ phía các doanh nghiệp may xuất khẩu tại Việt Nam, chưa có điều kiện khảo sát trực tiếp các chủ thể phân phối, tập đoàn bán lẻ quốc tế và các nhà cung ứng ở nước ngoài để đối sánh toàn diện dữ liệu hai chiều.
- Về dữ liệu sơ cấp: Do tính chất bảo mật số liệu tài chính của các doanh nghiệp may và điều kiện tiếp cận, số lượng mẫu điều tra sơ cấp dừng lại ở 31 phiếu hợp lệ.
- Về khung thời gian: Dữ liệu phân tích thực trạng chủ yếu phản ánh giai đoạn 2003 - 2009, gắn liền với giai đoạn đầu sau khi Việt Nam gia nhập WTO và dỡ bỏ hạn ngạch dệt may.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các tác nhân hạ nguồn trong chuỗi giá trị may mặc toàn cầu (các nhà nhập khẩu, nhà bán lẻ, thương hiệu toàn cầu tại các thị trường đích như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản).
- Mở rộng dung lượng mẫu khảo sát doanh nghiệp may xuất khẩu tại nhiều địa bàn kinh tế trọng điểm trong cả nước để phân tích sâu hơn theo từng nhóm hình thức sở hữu.
- Đi sâu nghiên cứu chuỗi giá trị và cơ chế liên kết kinh tế cho từng chủng loại sản phẩm may mặc chuyên biệt (như hàng dệt kim, hàng veston, thời trang cao cấp) trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có hiệu lực.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế công nghiệp, Quản trị kinh doanh, Kinh tế quốc tế và Thương mại; đặc biệt hữu ích khi tìm hiểu phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị (Chương 1) và kỹ thuật phân tích kết cấu giá, chi phí gia công CMT/FOB (Chương 2).
- Giảng viên và các nhà nghiên cứu: Có thể sử dụng khung lý thuyết tích hợp về chuỗi giá trị mở rộng và liên kết kinh tế làm tài liệu giảng dạy và phát triển các nghiên cứu ứng dụng trong các ngành công nghiệp chế biến khác.
- Các nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Bộ Công Thương, VCCI, Ban quản lý các khu công nghiệp có thể tham khảo các phân tích về điểm nghẽn công nghiệp phụ trợ, định hướng quy hoạch cụm công nghiệp dệt may và các giải pháp hoàn thiện thể chế hỗ trợ chuỗi cung ứng (Chương 3).
- Các nhà quản trị doanh nghiệp may xuất khẩu: Tham khảo các chỉ tiêu quản lý khách hàng, phương hướng chuyển đổi mô hình kinh doanh từ CMT sang FOB/ODM, và phương thức thiết lập liên kết dọc - liên kết ngang để nâng cao tỷ suất lợi nhuận.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định chuỗi giá trị của doanh nghiệp may xuất khẩu gồm những quá trình chính nào?
Luận án nhận diện chuỗi giá trị của doanh nghiệp may xuất khẩu bao gồm 6 quá trình chính luân chuyển từ nguyên liệu thô đến tiêu thụ cuối cùng: (1) Thiết kế; (2) Sản xuất nguyên phụ liệu; (3) Mua hàng; (4) May (bao gồm cắt, may và hoàn thiện); (5) Xuất khẩu; (6) Marketing và phân phối.
2. Điểm nghẽn lớn nhất trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp may xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009 là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu đảm nhận khâu cắt - may - hoàn thiện theo phương thức gia công xuất khẩu (CMT) - công đoạn tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi. Đồng thời, ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển khiến giá trị nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu chiếm tới gần 60% kim ngạch xuất khẩu, làm suy giảm khả năng chủ động và mức thặng dư giữ lại trong nước.
3. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập và xử lý bằng công cụ nào?
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phát phiếu hỏi trực tiếp, chuyển phát nhanh, fax và phỏng vấn chuyên gia, nhà quản lý tại các doanh nghiệp may xuất khẩu. Tổng số phiếu thu về hợp lệ là 31 phiếu. Dữ liệu khảo sát được mã hóa, xử lý và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16 (SPSS 16).
4. Luận án phân loại các hình thức liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp dựa trên những tiêu chí nào?
Luận án phân loại liên kết kinh tế theo ba tiêu chí chính: (1) Căn cứ vào quá trình sản xuất/cung cấp dịch vụ: gồm liên kết dọc, liên kết ngang và liên kết hỗn hợp; (2) Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia: gồm liên kết song phương và đa phương; (3) Căn cứ vào mức độ gắn kết: gồm quan hệ thỏa thuận một điểm (spot market), quan hệ mạng lưới (network) và hội nhập (integration).
5. Luận án đề xuất giải pháp trọng tâm nào để các doanh nghiệp may nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị?
Giải pháp trọng tâm cấp doanh nghiệp là thực hiện chuyển dịch phương thức kinh doanh từ gia công may mặc (CMT) sang xuất khẩu trực tiếp (FOB), từng bước phát triển năng lực tự thiết kế mẫu mã (ODM) và xây dựng thương hiệu (OBM). Song song đó, doanh nghiệp cần chủ động thiết lập quan hệ liên kết dọc dài hạn với các nhà sản xuất nguyên phụ liệu trong nước và tham gia vào các cụm công nghiệp dệt may chuyên môn hóa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Đông là công trình nghiên cứu hệ thống về việc vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu và liên kết kinh tế vào ngành may xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2009. Thông qua việc kết hợp nghiên cứu lý luận với điều tra thực tế 31 doanh nghiệp may và xử lý dữ liệu bằng SPSS 16, tác giả đã lượng hóa được thực trạng giá trị gia tăng ở các phương thức xuất khẩu CMT và FOB I, làm rõ các bất cập trong mối liên kết dọc và liên kết ngang của ngành. Các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất tập trung vào định hướng chuyển dịch mô hình sản xuất, nâng cấp công nghệ và hình thành cụm công nghiệp dệt may nhằm tăng cường sự tham gia bền vững của các doanh nghiệp may Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.