Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Những khái niệm cơ bản 1. Chuỗi sản xuất - Cung ứng Đây là khái niệm mới sử dụng trong kinh tế thị trường với mục tiêu là sản xuất hàng hóa theo ngành hàng. Từ quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau chúng tôi cho rằng, một chuỗi sản xuất được hiểu đó là tất cả các bên tham gia vào một hoạt động kinh tế có sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh và chuyển giao sản phẩm đó tới người tiêu dùng cuối cùng [11].
Trong một chuỗi sản xuất - Cung ứng: Dòng luân chuyển thông tin thường không phải là chủ yếu mà mục tiêu chính hướng đến là chi phí và giá. Chiến lược sản xuất thường tập trung vào sản phẩm, hàng hóa cơ bản. Định hướng của chuỗi sản xuất - Cung ứng chủ yếu là hướng cung. Vấn đề trọng tâm của chuỗi sản xuất chính là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và kết cấu tổ chức trong chuỗi là các tác nhân tham gia độc lập [11].
Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị hàng hóa - Dịch vụ là nói đến những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng. Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi [6]. Chúng ta có thể hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng: Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất. Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất định.
Tất cả các hoạt động này tạo thành một "chuỗi" kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động lại bổ xung giá trị cho sản phẩm cuối cùng [11]. e 5 Nếu hiểu Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì đó là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện để biến một nguyên liệu thô thành sản phẩm được bán lẻ. Kết quả của chuỗi có được sản phẩm đã được bán cho người tiêu dùng cuối cùng [11]. Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị đã bao hàm cả tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi.
Ngành hàng Theo Fabre "Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra sản phẩm cuối cùng. Như vậy ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hoạt động, xuất phát từ điểm ban đầu đến điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn chỉnh ở mức độ người tiêu thụ" [20]. Nói cách khác: Ngành hàng là tập hợp những tác nhân kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công sản phẩm, chế biến và đi đến một thị trường hoàn tất của các sản phẩm nông nghiệp. Nói chung, ngành hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
Chúng ta thấy rằng ngành hàng là một chuỗi tác nghiệp, chuỗi các tác nhân và cũng là một chuỗi những thị trường, nó kéo theo những luồng vật chất và những bù đắp bằng giá trị tiền tệ. Sản phẩm Trong một ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình, trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng. Sản phẩm của mọi tác nhân khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả hoạt động kinh tế, là đầu ra quá trình sản xuất của từng tác nhân. Do tính chất phong phú về chủng loại sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của các sản phẩm chính.
Sản phẩm của ngành hàng thường lấy tên sản phẩm của tác nhân đầu tiên [20]. Tác nhân Tác nhân là một "tế bào" sơ cấp với các hoạt động kinh tế là trung tâm, hoạt động độc lập và tự quyết định hành vi của mình. Tác nhân có thể là những hộ hay e 6 doanh nghiệp. tham gia trong các ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ [20].
Có thể chia tác nhân làm 2 loại: Tác nhân là người thực hiện và tác nhân tinh thần có tính tượng trưng. Nếu theo nghĩa rộng, người ta dùng tác nhân để nói một tập hợp các đơn vị có cùng một hoạt động. Nội dung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng Nội dung phân tích chuỗi giá trị gồm 8 nội dung hay còn được gọi là công cụ dùng để phân tích. Trong đó 4 công cụ đầu tiên được coi là "Công cụ cốt yếu" cần được thực hiện để đạt được phân tích tối thiểu về chuỗi giá trị.
Bốn công cụ tiếp theo là "các công cụ nâng cao" có thể tiến hành để có một bức tranh tổng thể hơn về một số mặt của chuỗi giá trị. Lựa chọn các chuỗi giá trị ngành hàng ưu tiên phân tích Trước khi tiến hàng phân tích chuỗi giá trị, chúng ta cần phải quyết định xem sẽ ưu tiên lựa chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích. Vì nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạn chế nên cần phải lập ra phương pháp để lựa chọn một số nhất định các chuỗi giá trị để phân tích trong số nhiều lựa chọn chúng ta có thể đạt được. Lập sơ đồ chuỗi giá trị Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, cần thiết sử dụng các mô hình, bảng, biểu đồ, số liệu và các hình thức khác để mô tả các tác nhân, đặc điểm và kết quả hoạt động của từng tác nhân.
Việc sử dụng các sơ đồ vẽ các chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ hiểu hơn trong quy trình nghiên cứu [6]. Xác định chi phí và lợi nhuận Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một khía cạnh của chuỗi giá trị. Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp. Nhưng xác định chi phí và lợi nhuận xác định số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra và số tiền mà một người tham gia chuỗi giá trị nhận được có ý nghĩa hơn cả [6].
Chi phí trong chuỗi giá trị ngành hàng miến dong tại huyện Nguyên Bình được xác định bao gồm: Các khoản chi phí vật chất đầu tư trực tiếp và các khoản chi phí dịch vụ đây chính là mức vốn đầu tư cần thiết trong quá trình kinh doanh. e 7 Để làm rõ cách xác định chi phí, lợi nhuận của từng tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng miến dong huyện Nguyên Bình tác giả sẽ phân tích chi tiết hơn trong phần hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài. Phân tích công nghệ, kiến thức Công nghệ áp dụng trong sản xuất là nói đến công nghệ truyền thống, công nghệ cao. Phân tích công nghệ và kiến thức nhằm phân tích hiệu quả và hiệu lực của công nghệ, kiến thức dùng trong chuỗi giá trị.
Trên cơ sở xác định loại hình công nghệ đang áp dụng so với những đòi hỏi công nghệ, kiến thức của chuỗi giá trị để thấy được mức độ hợp lý của công nghệ đang áp dụng. Từ đó đưa ra các giải pháp cho sự lựa chọn cải tiếp nâng cấp công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu chất lượng sản phẩm đầu ra, tiếp kiệm chi phí và nâng cao thu nhập cho chuỗi giá trị [6]. Phân tích thu nhập Mục tiêu của phân tích thu nhập: Phân tích tác động, phân bổ thu nhập trong và giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị theo cấp bậc. Phân tích tác động của hệ thống quản trị chuỗi giá trị tới sự phân bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng.
Miêu tả sự đa dạng của thu nhập, rủi ro thường gặp và tác động đến chuỗi giá trị. Phân tích việc làm Mục đích của phân tích việc làm trong chuỗi giá trị nhằm: Phân tích tác động của chuỗi giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa các tác nhân tham gia chuỗi. Miêu tả sự phân bổ của việc làm theo chuỗi giá trị, miêu tả sự năng động của việc làm dọc theo chuỗi giá trị. Phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của chuỗi giá trị đến sự phân bổ việc làm.
Phân tích sự tác động của các chiến lược khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm. Quản trị và dịch vụ Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm: Phân tích các nhà tham gia trong chuỗi giá trị phối hợp với các hoạt động của họ như thế nào thông qua các nguyên tắc chính thức và không chính thức. Hiểu sự tuân thủ nguyên tắc được giám sát như thế nào, phân tích những nhóm khác nhau của những người tham gia chuỗi giá trị nhận e 8 những hình thức hỗ trợ đầy đủ như thế nào để có thể giúp họ đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu. Đánh giá tác động của các nguyên tắc tới các nhóm khác nhau.
Sự liên kết giữa các tác nhân Trong nghiên cứu chuỗi giá trị cần thiết miêu tả mối liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị và mối liên kết của họ với các tác nhân ngoài chuỗi. Miêu tả những cam kết, trách nhiệm và lợi ích giữa những người tham gia, sự áp dụng đối với sự phát triển chung của chuỗi. Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị Phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta xác định những khó khăn của từng khâu trong chuỗi, từ đó có các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phát triển bền vững. Bốn khía cạnh cần lưu ý trong phân tích chuỗi giá trị nông nghiệp [6].
- Thứ nhất: ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích chuỗi giá trị cần: lập được sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể.