CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÔNG NỢ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về chính sách tín dụng thương mại doanh nghiệp 1. Khái niệm tín dụng thương mại Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với nhau dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem như một hình thức tín dụng, theo đó người bán tài trợ ngắn hạn cho người mua bằng việc giao hàng ngay nhưng chấp nhận thu tiền hàng sau một khoảng thời gian.
Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn phổ biến và rất quan trọng đối với các công ty [9, tr. Đặc điểm của tín dụng thương mại Theo Phan Thị Cúc và Đoàn Văn Huy [5, tr.279] tín dụng thương mại có những ưu nhược điểm sau: Thứ nhất, về ưu điểm của tín dụng thương mại gồm có: i, Là nguồn tài chính sẵn có, khá dễ dàng có được trong các mối quan hệ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. ii, Là nguồn tài trợ với chi phí vốn thấp. iii, Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại.
iv, Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh nghiệp một cách trực tiếp mà không cần thông qua bất kỳ trung gian nào. v, Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội. Thứ hai, nhược điểm của tín dụng thương mại là: i, Về quy mô: lượng giá trị cho vay bị hạn chế, chỉ giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà họ có. ii, Về thời gian: ngắn thường là dưới 1 năm.
iii, Về phạm vi: bị hạn chế chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp với nhau, và phải quen biết và tin tưởng nhau. 2 iv, Về sự phù hợp: tín dụng thương mại chỉ có thể xảy ra giữa một số doanh nghiệp nhất định, một bên cần tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa của mình và bên kia có nhu cầu đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất kinh doanh. Brigham [7] có 2 loại tín dụng thương mại là: Tín dụng thương mại tự do: là tín dụng được chấp nhận trong khoảng thời gian hưởng chiết khấu. Tín dụng thương mại có chi phí: là tín dụng thương mại tự do với chi phí bằng đúng phần trăm chiết khấu cho phép.
Chi phí của tín dụng thương mại: là những chi phí, phí tổn khi thực hiện chính sách tín dụng và chấp nhận tín dụng. Chi phí của tín dụng thương mại được xác định bằng công thức [7]: % chiết khấu 360 Chi phí = x 100 – % chiết khấu Thời hạn tín dụng – thời hạn chiết khấu 1. Chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp Theo Eugene F. Brigham và Joel F.
Houston [7] có 4 yếu tố cấu thành chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp là: tiêu chuẩn tín dụng, thời hạn tín dụng, chiết khấu và chính sách thu tiền. i, Tiêu chuẩn tín dụng là điều kiện tối thiểu về uy tín của khách hàng để được chấp nhận bán chịu. Dựa trên việc phân tích những thông tin tài chính và phi tài chính để đánh giá khách hàng có đáp ứng tiêu chuẩn tín dụng hay không. ii, Thời hạn tín dụng là độ dài khoảng thời gian người mua được cấp để thanh toán tiền hàng.
iii, Chiết khấu là việc giảm giá đối với những khoản thanh toán sớm. Chiết khấu định rõ tỷ lệ phần trăm giảm trừ và việc thanh toán phải thực hiện nhanh chóng như thế nào để đủ tư cách nhận chiết khấu. Ví dụ: 2/10 net 30 là hai phần trăm chiết khấu nếu khách hàng thanh toán trong vòng 10 ngày khi thời hạn tín dụng khách hàng được cấp là 30 ngày. 3 iv, Chính sách thu tiền bao gồm các quy định liên quan đến thời điểm và cách thức thu hồi các khoản nợ quá hạn của khách hàng.
Quy trình quy định thời gian thu tiền và các biện pháp xử lý các khoản phải thu quá hạn. Sự cần thiết của chính sách tín dụng thương mại Theo Nguyễn Tấn Bình [2] trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều có những mối quan hệ tài chính nhất định, khi thì trong vai trò người bán hàng hóa, có lúc lại trong vai trò người mua hàng và từ đó việc phát sinh các khoản mua chịu hay bán chịu hàng hóa là điều không thể tránh khỏi. Và kèm theo đó là nghĩa vụ và trách nhiệm phải thanh toán và thu hồi các khoản tiền tệ tương ứng, dẫn tới việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro, điều này tác động trực tiếp tới tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ vai trò người cấp tín dụng thương mại, cân nhắc giữa việc nếu không bán chịu hàng hóa sẽ mất cơ hội bán hàng, còn nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng.
Từ vai trò người nhận tín dụng thương mại, cân nhắc lợi ích giữa việc chấp nhận hay không tín dụng thương mại mà người bán cấp. Và việc thực hiện một chính sách tín dụng thương mại để có thể đôi bên cùng có lợi là điều cần thiết đối với cả người cấp và người được hưởng tín dụng: Thứ nhất, đối với người cấp tín dụng. Ở một khía cạnh nào đó, tín dụng thương mại trở thành công cụ khuyến mãi của người bán. Có nhiều ngành sản xuất, chế biến hầu như tài trợ hoàn toàn cho các doanh nghiệp mới bằng cách bán chịu với thời hạn thật dài.
Có khả năng kích cầu, gia tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Cải thiện được mối quan hệ với khách hàng, tạo được hình ảnh ấn tượng với khách hàng. Tín dụng thương mại là hình thức tài trợ bằng hiện vật nên hạn chế được ảnh hưởng của lạm phát, không làm giảm dần vốn tài trợ. Thứ hai, đối với người được hưởng tín dụng.
4 Người mua tận dụng việc mua chịu như là một nguồn tài trợ ngắn hạn, họ có thể hưởng lợi từ khoản chiết khấu nếu thành toán sớm hoặc có thể chiếm dụng được một khoản vốn trong một thời hạn cho phép với một chi phí hợp lý. Giúp gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh trong điều kiện hạn chế về vốn. Thủ tục đơn giản, không rắc rối bởi vì tín dụng thương mại mang tính sẵn sàng và mềm dẻo. Sự quá hạn trong tín dụng thương mại được xem nhẹ nhàng hơn so với trễ hạn trong các khoản vay nợ.
Các tác động của chính sách tín dụng thương mại Theo Nguyễn Tấn Bình [2] chính sách tín dụng thương mại có ảnh hưởng rộng khắp tới các hoạt động kinh doanh của Công ty, các ảnh hưởng đó gồm: Thứ nhất, tác động tới doanh thu của Công ty. Việc doanh nghiệp chấp nhận bán chịu cho khách hàng sẽ tăng tính hấp dẫn làm cho doanh số hàng bán tăng lên, đồng thời việc cấp tín dụng thương mại cho một số khách hàng thanh toán chậm sẽ giúp doanh nghiệp bán được hàng với giá cao hơn, dẫn tới tổng doanh thu tăng lên. Thứ hai, tác động làm phát sinh thêm các loại chi phí. Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng, doanh nghiệp sẽ phải chịu thêm những chi phí phát sinh như chi phí vốn tăng lên (do chu kỳ thu tiền bình quân dài hơn dẫn đến vốn luân chuyển chậm hơn) hoặc phát sinh thêm chi phí trả lãi do phải đi vay bổ sung nguồn vốn và các chi phí khác liên quan đến chính sách tín dụng thương mại như chi phí đánh giá khách hàng, chi phí quản lý các khoản phải thu, chi phí thu nợ.
Những chi phí này ngày càng tăng lên khi doanh nghiệp cấp thêm tín dụng thương mại cho khách hàng. Thứ ba, tác động vào nợ ngắn hạn và chi phí nợ ngắn hạn. Bình thường, dòng tiền vào từ doanh thu bán hàng của doanh nghiệp được dùng bù đắp cho những chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể gây xảy trường hợp doanh nghiệp thiếu hụt ngân quỹ và phải vay ngắn hạn để bù đắp, làm các khoản nợ ngắn hạn tăng lên đồng thời phát sinh thêm chi phí vay ngắn hạn.
Bởi vậy, chi phí 5 vay ngắn hạn của công ty là một yếu tố trong quyết định cấp tín dụng thương mại. Do đó, công ty cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định. Thứ tư, tác động làm tăng rủi ro không thu được nợ. Hình thức cấp tín dụng thương mại luôn đi kèm rủi ro về khách hàng không thanh toán nợ cho doanh nghiệp đúng hạn, dẫn đến nợ quá hạn, khó đòi thậm chí mất trắng.
Thứ năm, chính sách tín dụng thương mại hỗ trợ các quyết định về marketing và giá sản phẩm. Tín dụng thương mại còn là một công cụ quảng cáo, không hoàn toàn là một công cụ tài chính. Tín dụng thương mại cung cấp một tiêu chí quan trọng để lựa chọn nhà cung cấp, đặc biệt là khi các nhà cung cấp có các sản phẩm giống nhau về chất lượng, giá cả và phân phối. Khách hàng sẽ mua nhiều hơn từ nhà cung cấp có điều khoản tín dụng nới lỏng hơn.
Điều khoản thanh toán linh hoạt cũng có thể hỗ trợ nhu cầu của khách hàng. Việc sử dụng chiết khấu thanh toán sớm có thể là một công cụ có giá trị. Thứ sáu, giúp tạo các khoản đầu tư bền vững vào khoản phải thu. Lý thuyết tài chính cho rằng các doanh nghiệp nên đầu tư vào tín dụng thương mại nếu giá trị hiện tại ròng của doanh thu khi cấp tín dụng thu được lớn hơn giá trị hiện tại ròng khi không cấp tín dụng.
Quyết định cấp tín dụng thương mại nên được xem xét từ một tầm nhìn dài hạn, vượt ra ngoài con số khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán. Cần cân nhắc lợi ích giữa việc thu một khoản lợi nhuận trước mắt với việc tạo một mối quan hệ lâu dài với người mua, một mối quan hệ kinh doanh lâu dài đôi bên cùng có lợi. Thứ bảy, giúp Công ty thu thập thêm nhiều thông tin có giá trị về khách hàng. Khi xem xét cấp tín dụng thương mại, doanh nghiệp phải chủ động thu thập thông tin khách hàng và có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp thêm thông tin để lập bộ hồ sơ tín dụng khách hàng.