Lời mở đầu Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và internet trong những năm gần đây đã làm thay đổi cuộc sống một cách rõ rệt. Con người sống trong môi trường tự nhiên với các thiết bị hiện đại và các mối quan hệ của họ không bị bó hẹp trong một địa phương, đất nước mà vươn ra toàn thế giới. Chính những điều đó làm thay đổi hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, lấn dần từ kinh doanh thương mại truyền thống sang thương mại điện tử. Bắt kịp với xu hướng đó mô hình kinh doanh thương mại điện tử cũng đã được áp dụng vào Việt Nam trong những năm gần đây.
Với sự tiện lợi trong trao đổi giữa người mua và người bán, Thương mại điện tử đang trở thành sự lựa chọn của nhiều người bận rộn, cư dân mạng. Ứng dụng gọi xe Grab là một trong những ví dụ điển hình cho sự thành công của việc tiếp cận công nghệ trong kinh tế. Vậy làm thế nào để Grab đạt được thành công như ngày hôm nay? Nhóm chúng em sẽ phân tích rõ đề tài: “Cấu trúc và chiến lược kinh doanh quốc tế của Grab” để làm rõ được điều đó. Trong quá trình làm bài chúng em không tránh khỏi sơ sót, vì vậy, nhóm chúng em hy vọng có thể nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy và các bạn.
Lịch sử hình thành và phát triển của Grab 1. Giới thiệu chung về Grab 1. Công ty Grab Tên công ty: Công ty TNHH Grab (tên viết tắt: GRAB, tên viết bằng tiếng Anh: Grab Company Limited) Loại hình pháp lý: Công ty tư nhân Ngành nghề: vận chuyển, giao hàng Ngày thành lập: 05/06/2012 Người sáng lập: Anthony Tan, Tan Hooi Ling Trụ sở chính: Singapore (từ năm 2014) Grab bắt đầu như là một ứng dụng gọi xe taxi từ năm 2012 nhưng đã mở rộng nền tảng sản phẩm ra rất nhiều dịch vụ - phục vụ cho mọi nhu cầu trong đời sống hàng ngày của mọi người, bao gồm: kết nối di chuyển, đặt thức ăn, giao nhận hàng hóa, thanh toán và nhiều hơn nữa. Grab hiện đang có mặt tại 8 quốc gia Đông Nam Á: Singapore, Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia và Myanmar.
Tầm nhìn, sứ mệnh Tầm nhìn: đáp ứng mọi nhu cầu trong cuộc sống hằng ngày, từ di chuyển, giao nhận hàng hóa, logistics cho đến thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ tài chính của người dân Đông Nam Á. Sứ mệnh: Không ngừng nỗ lực, không ngừng phát triển để tốt hơn từng ngày. Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm a) Lĩnh vực kinh doanh Lập trình máy vi tính Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải: giao nhận hàng hóa, thu phát các chứng từ vận tải, dịch vụ thu hộ, chi hộ tiền hàng Chuyển phát Hoạt động dịch vụ công nghệ thông tin và dịch vụ khác liên quan đến máy vi tính Xử lý dữ liệu và cho thuê các hoạt động liên quan Kiểm tra và phân tích kỹ thuật Vận tải hành khách đường bộ trong nội thành và ngoại thành (trừ vận tải bằng xe buýt) Tư vấn máy vi tính và quản trị máy vi tính b) Sản phẩm kinh doanh GrabBike là chức năng được tích hợp trên ứng dụng Grab giúp kết nối trực tiếp giữa khách hàng có nhu cầu đi lại và tài xế xe ôm 2 bánh (xe máy) GrabCar là dịch vụ xe hơi 4 bánh kết nối giữa cá nhân có xe hơi rảnh và khách hàng muốn di chuyển bằng xe 4 bánh. Cước phí chuyến đi đều được hiển thị 6 trên ứng dụng và khách hàng không phải trả thêm tiền gì khác.
Dịch vụ này có giá thành rẻ hơn dịch vụ Taxi truyền thống Grab Taxi là dịch vụ kết nối các tài xế Taxi tại địa phương với khách hàng có nhu cầu đặt xe di chuyển, tương tự như GrabCar thì dịch vụ này bao gồm các loại xe dưới 9 chỗ ngồi trở xuống. Tiền cước sẽ tính theo đồng hồ điện tử trên xe chứ không phải trên ứng dụng Grab Grab đi tỉnh là dịch vụ GrabCar 2 chiều cho phép bạn đi những chuyến đi xa có lượt đi và lượt về trong ngày với mức cước phí sẽ rẻ hơn GrabCar và thường dùng để đi từ tỉnh này sang tỉnh khác với biểu phí tính cước khác với dịch vụ Grab 4 chỗ và 7 chỗ hiện tại GrabExpress: dịch vụ giao hàng nhanh trong nội thành, Grab tận dụng lượng tài xế GrabBike của mình để hoạt động dịch vụ này nhằm mang lại thu nhập thêm cho tài xế cũng như phục vụ nhu cầu giao hàng của khách hàng sử dụng. GrabFood: dịch vụ giao thức ăn/ nước uống đặt qua ứng dụng Grab. Các cửa hàng đồ ăn, thức uống sẽ liên kết với Grab và danh sách cửa hàng sẽ được hiển thị lên ứng dụng với thực đơn đã đăng ký.
Các lái xe Grab sẽ thực hiện việc mua đồ ăn/ thức uống từ nhà hàng đến giao cho khách hàng đặt trong thời gian sớm nhất. GrabHour (Grab Giờ): dịch vụ đặt xe riêng và tính cước phí theo giờ. Nhờ vậy, bạn có thể di chuyển một cách linh động giữa các điểm, nhưng vẫn biết trước giá tiền - giá cố định tùy vào gói thời gian mà bạn đặt. Nhờ vậy, bạn có thể di chuyển một cách linh động giữa các điểm, nhưng vẫn biết trước giá tiền - giá cố định tùy vào gói thời gian mà bạn đặt.
GrabPay: là hình thức thanh toán các dịch vụ trên ứng dụng Grab bằng thẻ tín dụng như các thẻ Credit và Debit Master Card/Visa. Chính vì vậy mà bạn không cần phải đem theo tiền mặt hoặc phải chuẩn bị tiền lẻ để đưa cho tài xế Grab. GrabFresh: dịch vụ giao hàng tạp hóa được thực hiện nhờ mối liên kết giữa Grab và Happy Fresh, một công ty chuyên giao nhận hàng tạp hoá khu vực Đông Nam Á. 7 Grab Kitchen: là một cửa hàng do Grab mở ra để cho các quán ăn ngon, thương hiệu đồ ăn được khánh hàng đặt nhiều trên ứng dụng GrabFood có thể mở gian hàng đồ ăn này bán tại các địa điểm này.
Grab Mart: dịch vụ giao hàng theo yêu cầu hàng ngày. Dịch vụ đặt phòng khách sạn: Dịch vụ này được công ty hợp tác với Agoda.com và sắp tới sẽ hợp tác với Booking.com - hai nền tảng về đặt phòng khách sạn lớn nhất Đông Nam Á. Lịch sử hình thành và phát triển Ý tưởng tạo ra Grab thành hình từ năm 2011, khi người sáng lập Anthony Tan - theo học trường Kinh doanh Harvard - cùng cộng sự lập nên thương hiệu MyTeksi tại Kuala Lumpur. tháng 6/2012 đánh dấu thời điểm MyTeksi chính thức được ra mắt tại thị trường Malaysia với các “kình địch” là Uber và Easy Taxi, thu về thành công ban đầu là 11.000 lượt tải ứng dụng trong ngày đầu ra mắt.
Quá trình phát triển thị trường - 2011: My Teski thu về thành công ban đầu là 11.000 lượt tải ứng dụng trong ngày đầu ra mắt. - 6/2013: Grab đã lập kỷ lục cứ 8 giây có một lệnh đặt xe, tương đương 10.000 lệnh đặt xe/ngày. Tháng Tám trong cùng năm, MyTeksi đổ bộ vào thị trường Philippines dưới tên GrabTaxi. - 10/2013, GrabTaxi có thêm thị trường Singapore và Thái Lan và bốn tháng sau đó là thị trường Việt Nam và Indonesia.
- Ngày 28/1/2016, GrabTaxi chính thức đổi thương hiệu thành Grab để khẳng định vị trí của hãng tại thị trường Đông Nam Á. - Grab có mặt tại Việt Nam vào tháng 02/2014 với tên gọi ban đầu là GrabTaxi, sau đó dịch vụ GrabBike được triển khai vào tháng 11/2014 và sau gần 2 năm hoạt động thì hãng này cho ra mắt rất nhiều dịch vụ khác như: GrabTaxi, GrabBike, 8 GrabCar, GrabExpress và cho tới bây giờ thì đã có rất nhiều dịch vụ khác nhau trên ứng dụng Grab. Quá trình gọi vốn - Ban đầu, nguồn vốn của Grab dựa hoàn toàn vào gia đình người sáng lập Anthony Tan. - Vào tháng 4/2014, Grab tiến hành gọi vốn lần đầu tiên với tổng trị giá hơn 10 triệu USD từ Vertex Ventures.
Một tháng sau đó, hãng tiến hành gọi vốn lần thứ hai lên tới 15 triệu USD, chủ yếu từ nhà tài trợ CGV Capital. - Tháng 10/2014, Grab gọi vốn lần ba 65 triệu USD từ Tiger Global, Vertex Ventures, CGV và “ông lớn” trong lĩnh vực lữ hành của Trung Quốc Qunar. Lượng vốn gia tăng tương ứng sức tăng trưởng mạnh mẽ của Grab. - 2014: Chính thức bước vào thị trường Indonesia và Việt Nam.
- 2017: Grab chính thức bước chân vào thị trường Myanmar và Campuchia. Grab triển khai Grab Family (Singapore, ghế cho trẻ nhỏ), Grab Tuktuk và Grab RickShaw cho thị trường Campuchia. - 2018: Chính thức mua lại UBER tại thị trường Đông Nam Á, loại bỏ đi một trong những đối thủ lớn. - 7/2018 Grab đã gọi vốn thành công với trị giá 2,5 tỷ USD.
- 2019: Với tham vọng ứng dụng toàn cầu, Grab đầu tư 8 triệu USD vào Spylt Technologies-công ty công nghệ có trụ sở tại Anh - công ty có trụ sở tại London, Anh. Grab cho ra mắt Grab Pet tại Singapore. - 8/2020: Grab đang gọi vốn 200 triệu USD từ công ty Hàn Quốc Stic Investments - Tính đến hết năm 2020: Grab hiện đang có mặt tại 8 quốc gia Đông Nam Á: Singapore, Cambodia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thailand and Viet Nam 9 II. Chiến lược kinh doanh quốc tế của Grab 1.
Khái niệm Chiến lược quốc tế có thể hiểu là cách thức mà các công ty lựa chọn việc giành và sử dụng những nguồn lực khan hiếm ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm đạt được mục tiêu của công ty trên thị trường thế giới. Hoặc: Chiến lược quốc tế bao gồm các mục tiêu dài hạn mà công ty cần phải đạt được thông qua các hoạt động kinh doanh quốc tế, các chính sách và giải pháp lớn nhằm đưa hoạt động kinh doanh hiện tại của công ty phát triển lên một trạng thái mới cao hơn về vật chất. Vai trò Chiến lược là công cụ thể hiện tổng hợp các mục tiêu dài hạn của tổ chức, doanh nghiệp. Mục tiêu của các doanh nghiệp là các tiêu đích cụ thể mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
Việc cụ thể hoá, văn bản hoá các mục tiêu của doanh nghiệp thông qua chiến lược sẽ giúp cho các thành viên trong doanh nghiệp, tổ chức nhận thức rõ họ muốn đi tới đâu, vì vậy họ biết họ cần làm gì. Chính điều đó giúp cho các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu của mình một cách dễ dàng hơn. Chiến lược gắn liền các mục tiêu phát triển trong ngắn hạn ở bối cảnh dài hạn.