CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM VỀ CẤU TRÚC VỐN Hiện nay, các lý thuyết về cấu trúc vốn rất đa dạng, phong phú, mỗi nhà nghiên cứu có một quan điểm riêng về khái niệm cấu trúc vốn. Do đó, vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về cấu trúc vốn. Theo Xiaoyan Niu (2008), cấu trúc vốn của một công ty là mô tả cách thức mà một công ty huy động vốn cần thiết để thiết lập và mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình. Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nhiều loại vốn nợ và vốn chủ sở hữu.
Để lựa chọn cấu trúc vốn và đưa ra các quyết định lên cấu trúc vốn cần xem xét nhiều yếu tố khác nhau. Theo Mohammad Alipour và các cộng sự (2015), cấu trúc vốn nhấn mạnh vào sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho các quyết định tài chính khác nhau. Các quyết định tài chính có vai trò rất quan trọng, một quyết định tài chính về cấu trúc vốn sai lầm có thể dẫn đến sự kiệt quệ tài chính và cuối cùng là phá sản. Trong lĩnh vực tài chính, khái niệm cấu trúc vốn được đề cập đến như các phương thức mà một công ty hay doanh nghiệp bất kỳ tài trợ cho nguồn vốn được huy động thông qua việc kết hợp các loại vốn ngắn hạn và dài hạn (bao gồm vốn chủ sở hữu, nợ và chứng khoán) (Brounen và các cộng sự 2005).
Xét về mặt học thuật, PGS.TS Trần Ngọc Thơ cùng các cộng sự (2007) cho rằng cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Thuật ngữ cấu trúc vốn mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để mua sắm tài sản, phương tiện vật chất hữu hình và hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, trong một số nghiên cứu gần đây, chẳng hạn như nghiên cứu của Caglayan và Sak (2010) các tác giả cũng cho rằng cấu trúc vốn được hiểu như thành phần của đòn bẩy tài chính hoặc “cấu trúc” (structure) nợ phải trả của doanh nghiệp. 6 Bên cạnh đó, biến đòn bẩy tài chính đã được sử dụng đại diện cho cấu trúc vốn ngân hàng trong các nghiên cứu trước đây của Gropp và Heider (2009), Octavia và Brown (2008).
Xét về mặt lý thuyết, đòn bẩy tài chính (Financial Leverage) là khái niệm được hiểu là việc sử dụng các nguồn lực tài trợ (vay nợ) để tài trợ cho việc mua tài sản. Tỷ lệ đòn bẩy tài chính so sánh tổng nợ với tổng tài sản của doanh nghiệp; thường được dùng để các tổ chức theo dõi tài chính. Đây là một công cụ giúp các doanh nghiệp tăng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Thông thường, các doanh nghiệp nói chung, các ngân hàng nói riêng chỉ sử dụng đòn bẩy khi chắc chắn rằng tỷ suất sinh lời trên tài sản cao hơn lãi suất đi vay vì mặt trái của công cụ này khi lạm dụng quá mức là áp lực trả nợ.
Tóm lại, cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt kinh doanh, đầu tư. Cấu trúc vốn liên quan đến lượng tiền hoặc vốn đang hỗ trợ cho doanh nghiệp, tài trợ cho tài sản và các hoạt động hàng ngày. Trong nghiên cứu này, cấu trúc vốn tại các NHTM được hiểu là tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản.2 CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN 1.1 Theo quan điểm truyền thống Quan điểm truyền thống cho rằng tài sản của doanh nghiệp được tạo ra từ sự kết hợp giữa các nguồn tài chính bên ngoài hoặc từ nội bộ doanh nghiệp. Trường hợp, doanh nghiệp chỉ sử dụng nguồn vốn tự có để tài trợ tài sản thì doanh nghiệp sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ như khi sử dụng nguồn tài chính từ bên ngoài, mà toàn bộ lợi nhuận sẽ được phân phối cho các cổ đông và một phần tích lũy thông qua lợi nhuận giữ lại.
Các quan điểm khác nhau về việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp tạo ra một cuộc tranh luận kéo dài nhiều thập kỷ và vẫn còn tiếp tục khi xem xét bản chất sự tác động của cấu trúc vốn đến giá trị của doanh nghiệp. Năm 1963, Solomon đã phát triển cách tiếp cận trung gian đối với cấu trúc vốn. Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn của ông cho rằng giá trị của công ty sẽ 7 tăng lên đến một mức vốn nợ nhất định và sau đó có xu hướng không đổi với mức sử dụng vốn nợ vừa phải và cuối cùng giá trị của công ty giảm (Solomon 1963). Các lý thuyết truyền thống chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận và đòn bẩy.
Các công ty có lợi nhuận có khả năng trả nhiều thuế hơn và do đó có động cơ lớn hơn để sử dụng nợ như một công cụ tiết kiệm thuế. Cụ thể, khi doanh nghiệp sử dụng nợ hay tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay tăng, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi về thuế do phần chi trả lãi vay cho chủ nợ được khấu trừ thuế và thực hiện trước khi doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp. Chi phí vay nợ ban đầu thấp kết hợp với lợi ích về thuế sẽ khiến chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng, làm tăng khả năng sinh lời. Ngoài ra, các công ty có lợi nhuận có nhiều khả năng có chi phí kiệt quệ tài chính thấp hơn, do đó làm giảm chi phí đòn bẩy.
Tuy nhiên, khi doanh nghiệp lạm dụng quá mức nguồn tài chính từ bên ngoài làm tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu tăng cao, khả năng doanh nghiệp không trả được nợ cao hơn (nguy cơ phá sản tăng) tác động của tỷ lệ nợ vay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng). Chi phí nợ tăng, chi phí vốn chủ sở hữu cũng tăng làm cho WACC tăng, khả năng sinh lời giảm và giá trị doanh nghiệp sẽ giảm. Đồng thời, thông tin bất cân xứng cho thấy một mối quan hệ hoàn toàn ngược lại bởi vì các công ty thua lỗ sẽ rất tốn kém để thuyết phục các cổ đông tiềm năng về giá trị của các dự án mới. Như vậy có thể thấy, lý thuyết cổ điển đánh giá khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn sẽ được lợi nhiều hơn bất lợi.
Lợi ích ở đây chủ yếu đến từ “lá chắn thuế” của lãi vay. Tuy nhiên, không có một lý thuyết cơ sở nào giúp xác định mức chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí nợ sao cho WACC tối ưu.2 Lý thuyết Modigliani & Miller Lý thuyết của Modigliani & Miller (1958, 1963) là lý thuyết hiện đại đầu tiên trình bày quan điểm trái ngược với lý thuyết cổ điển về cấu trúc vốn, lý giải được mối quan hệ giữa giá trị công ty, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của công ty và là cơ sở cho các lý thuyết sau ra đời. Lý thuyết của Modigliani & Miller bao gồm 8 hai mệnh đề quan trọng được xem xét trong hai điều kiện có thuế và không có thuế, đặt trong giả định: thị trường vốn là hoàn hảo. Xem xét mệnh đề I trong điều kiện không có thuế, lý thuyết khẳng định cấu trúc vốn của một công ty không ảnh hưởng đến giá trị thị trường của công ty đó.
Theo lý thuyết này, doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn vốn mà không phải quan tâm nguồn vốn đó đến từ nợ hay vốn chủ sở hữu vì dù doanh nghiệp có vay nợ hay không có vay nợ thì giá trị vẫn là như nhau và giá trị doanh nghiệp không thay đổi khi cơ cấu vốn của công ty thay đổi. Trong trường hợp có thuế, mệnh đề I chỉ ra giá trị công ty khi vay nợ cộng bằng hiện giá của lá chắn thuế do sử dụng nợ cộng với giá trị công ty khi không vay nợ. Mệnh đề II trong trường hợp không có thuế, lý thuyết cho rằng khi công ty gia tăng tỷ số nợ làm cho chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên trong khi chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC) không đổi. Trường hợp có thuế, lý thuyết chỉ ra rằng chi phí vốn của công ty sẽ tăng lên khi công ty tăng tỷ lệ vay nợ và giảm tỷ lệ cổ phiếu.
Doanh nghiệp càng vay nhiều thì lợi ích được hưởng từ thuế càng cao, giá trị doanh nghiệp sẽ tăng và gia tăng tối đa khi được tài trợ 100% nợ. Tuy nhiên, lợi ích của lá chắn thuế lại chịu sự tác động của một số chi phí dẫn đến việc lợi ích bị giảm dần và bị triệt tiêu khi tỷ số nợ gia tăng. Đó là tác động của chi phí khốn khó tài chính chưa được lý thuyết đề cập đến. Tóm lại, lý thuyết M&M đã chỉ ra mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị thực tế của doanh nghiệp trong giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không có rào cản pháp lý, không có chi phí giao dịch, chi phí phá sản, trong khi thực tế, thị trường không hoàn hảo và các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến giá trị thị trường của công ty.
Mặc dù còn nhiều bất cập nhưng lý thuyết của Modigliani & Miller cũng đã tạo nên những tiền đề phát triển cho những lý thuyết và nghiên cứu sau này về cấu trúc vốn.3 Lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking–order Theory) Lý thuyết trật tự phân hạng thị trường hay còn được gọi là lý thuyết thứ tự tăng vốn. Nói cách khác, đây là một lý thuyết thị trường dựa trên thông tin, một lý thuyết về hành vi của các nhà đầu tư dựa trên thực tiễn bất cân xứng thông tin trên thị trường vì nhà quản lý thường sẽ có nhiều thông tin về doanh nghiệp hơn nhà đầu tư. Myers & Majluf (1984) khẳng định có một trật tự ưu tiên trong sử dụng các nguồn tài trợ nội bộ và nguồn tài trợ bên ngoài, giữa phát sinh nợ mới và phát hành cổ phiếu bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng. Đứng trước quyết định về cấu trúc vốn, doanh nghiệp cân nhắc giữa 3 lựa chọn: thứ nhất là huy động vốn từ nguồn nội bộ (chủ yếu đến từ lợi nhuận giữ lại), thứ hai là nguồn tài trợ bằng vay nợ, cuối cùng là phát hành cổ phiếu.