chương 1 cũng trình bày về mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu, trong đó việc đánh giá mức độ cạnh tranh của thị trường được đo lường thông qua các chỉ số tập trung (CRk và HHI). Nghiên cứu sẽ góp phần tổng hợp dữ liệu chung về cấu trúc thị trường ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2008- 2017 và sẽ bổ sung cơ sở khoa học trong nghiên cứu về hoạt động ngân hàng. 7 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 2.1 Khái niệm về cấu trúc thị trường Cấu trúc thị trường là một thuật ngữ mô tả hành vi của người bán và người mua trong thị trường. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh hay mức độ độc quyền mà chia ra các cấu trúc thị trường sau: (1) Cạnh tranh hoàn toàn; (2) Độc quyền hoàn toàn; (3) Cạnh tranh độc quyền; (4) Độc quyền nhóm.
Sự khác nhau giữa các cấu trúc thị trường thường được xem xét thông qua: số lượng người bán người mua, tính đồng nhất hay sự giống nhau của sản phẩm, sức mạnh thị trường, rào cản gia nhập thị trường, cạnh tranh qua giá và cạnh tranh phi giá. Cấu trúc thị trường cạnh tranh hay độc quyền được quyết định bởi sức mạnh thị trường của các chủ thể tham gia được nhận diện thông qua mức độ tập trung. Mức độ tập trung càng cao, sức mạnh thị trường càng lớn, khả năng chi phối thị trường càng mạnh, tính độc quyền của thị trường càng cao (Begg, 2007). Theo Schiller (2010) cấu trúc thị trường là số lượng và quy mô tương đối của các hãng trong một ngành, cấu trúc thị trường trải dài từ cạnh tranh hoàn hảo tới độc quyền, bao gồm: - Cạnh tranh hoàn hảo: là một thị trường mà trong đó không có người bán và người mua nào có sức mạnh thị trường; có sự cạnh tranh trực tiếp và công bằng giữa người mua và người bán; - Cạnh tranh độc quyền: là một thị trường trong đó nhiều hãng sản xuất các hàng hoá dịch vụ tương tự nhau nhưng mỗi hãng duy trì sự kiểm soát độc lập nhất định với giá cả của mình; - Độc quyền bán: là một thị trường trong đó một số ít hãng sản xuất kiểm soát toàn bộ hoặc hầu hết nguồn cung trên thị trường về một loại hàng hoá dịch vụ; 8 - Lưỡng độc quyền: Một thị trường chỉ có 2 hãng cung cấp một hàng hoá hay dịch vụ nhất định; - Độc quyền: Một hãng sản xuất toàn bộ nguồn cung trên thị trường về một loại hàng hoá dịch vụ nào đó.
Như vậy, sức mạnh thị trường sẽ được cấu thành bởi các yếu tố: (1) Số lượng sản phẩm sản xuất; (2) Quy mô từng hãng; (3) Rào cản gia nhập; (4) Tính sẵn có của hàng hóa thay thế. Và theo Schiller (2010) để đánh giá sức mạnh của thị trường thì đánh giá thông qua mức độ (tỷ lệ) tập trung. Mức độ tập trung là một thước đo sức mạnh thị trường gắn liền quy mô hãng với quy mô thị trường sản phẩm. Sự khác biệt giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền Độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo đánh dấu hai thái cực của cấu trúc thị trường, tuy nhiên có một số điểm tương đồng giữa các công ty trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo và các công ty độc quyền.
Cả hai đều phải đối mặt với cùng mức chi phí và hàm sản lượng và cả hai đều cố gắng tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên vẫn có một số khác biệt chính được nêu trong Bảng 2.1: Sự khác biệt giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền Đặc điểm Độc quyền Cạnh tranh hoàn hảo Chỉ có một người bán và thực tế Có một số lượng lớn người mua Người mua tất cả người mua phụ thuộc vào và người bán, do đó không có và người người bán này, do đó nó có quyền người mua và người bán nào có bán kiểm soát tuyệt đối trên thị thể làm thay đổi giá trên thị trường. Cung cấp từ một người bán, do dó Nguồn cung đến từ một số Cung kiểm soát tuyệt đối nguồn cung lượng lớn những người bán Cầu không co giãn. Đường cầu Cầu co giãn hoàn toàn.
Đường Cầu dốc xuống cầu là đường thẳng ngang Sản phẩm Sản phẩm đồng nhất Sản phẩm đồng nhất 9 Bản chất Không có giá và sản phẩm cạnh Sự cạnh tranh hoàn hảo về giá của cạnh tranh cả tranh Giá cao hơn. Cao hơn tất cả giá cả Giá cả Giá tiêu chuẩn P = MR = MC cạnh tranh P > MR = MC2 Sản lượng nhỏ do người bán duy Sản lượng lớn được cố định bởi Sản lượng nhất ấn định MR = MC Kiếm được lợi nhuận độc quyền Lợi nhuận bình thường do cạnh Lợi nhuận vượt trội tranh giá Độc quyền thuần túy rất hiếm Ứng dụng nhưng các yếu tố độc quyền đang Khá phi thực tế có trong thị trường Nguồn: (Karimani & Saeedi Manesh, 2017) 2.2 Mối quan hệ giữa mức độ tập trung và cạnh tranh trong thị trường ngân hàng đến sự ổn định tài chính Các mô hình lý thuyết đã đưa ra những kết luận hay dự đoán trái ngược nhau về mối quan hệ giữa tập trung ngân hàng, sự cạnh tranh và ổn định tài chính. Trong nghiên cứu thực nghiệm, hiện có hai lý thuyết chính liên quan đến sự ảnh hưởng của mức độ tập trung và cạnh tranh trên thị trường ngân hàng mà ảnh hưởng đến nền kinh tế. Tùy thuộc vào mô hình dự báo mà nó có mối quan hệ cùng chiều hay trái chiều giữa mức độ cạnh tranh và sự ổn định.
Lý thuyết thứ nhất là lý thuyết cạnh tranh – đổ vỡ (Competition-fragility Hypotheses) và lý thuyết thứ hai là lý thuyết cạnh tranh - ổn định (Competition-stability hypotheses) (Beck, 2008). - Lý thuyết cạnh tranh – đổ vỡ 2 MR (Marginal Revenue): Doanh thu cận biên; MC (Marginal Revenue): Chi phí cận biên 10 Một số mô hình dự đoán rằng hệ thống ngân hàng càng tập trung và càng ít cạnh tranh hơn thì sẽ ổn định hơn, vì lợi nhuận tạo ra một tấm đệm trước sự đổ vỡ và tạo động lực để ngăn ngừa rủi ro quá mức. Lý thuyết cạnh tranh – đổ vỡ dựa trên ý tưởng của lý thuyết về giá trị thương hiệu (Franchise Value Hypothesis). Ý tưởng của lý thuyết này là các ngân hàng giới hạn rủi ro của họ để bảo vệ lợi ích gần như độc quyền được thừa nhận bởi đặc quyền của chính phủ.
Cạnh tranh gia tăng sẽ làm giảm phần lợi ích và đặc quyền đó, điều này sẽ dẫn đến rủi ro ngân hàng lớn hơn và sự bất ổn tài chính cao hơn. Lý thuyết này dựa trên ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh tới hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, nếu mức độ cạnh tranh thị trường tăng lên, lợi nhuận của các ngân hàng sẽ giảm xuống, ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị thương hiệu và do vậy, các ngân hàng sẽ sẵn sàng chấp nhận mức rủi ro trong hoạt động của mình cao hơn nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong tình hình cạnh tranh căng thẳng. Tóm lại, nếu như mức độ cạnh tranh cao hơn (mức độ tập trung thị trường nhỏ hơn), sẽ làm hệ thống ngân hàng bất ổn định và dễ đổ vỡ hơn. Quan điểm của ngân hàng về “giá trị đặc quyền3” theo lý thuyết được (Marcus, 1984) mô tả, các ngân hàng lựa chọn rủi ro trong danh mục tài sản của mình, tuy nhiên, chủ ngân hàng có động cơ để di chuyển rủi ro cho những người gửi tiền, nhưng trong trách nhiệm hữu hạn của mình, họ chỉ tham gia một phần của việc chấp nhận rủi ro này.
Trong môi trường cạnh tranh hơn, với nhiều sức ép hơn về lợi nhuận, các ngân hàng có động cơ cao hơn để gây rủi ro quá mức, dẫn đến sự đổ vỡ cao hơn. Mặt khác, các ngân hàng có cơ hội kiếm được lợi nhuận tốt hơn và do đó có ít động cơ để gây rủi ro hơn, đồng thời có những tác động tích cực đối với sự ổn định tài chính. Ngoài ra, trong môi trường cạnh tranh hơn, các ngân hàng thường giảm bớt các quy định khắt khe để có nhiều khách hàng để cho vay hơn, điều này làm tăng thêm nguy cơ vỡ nợ. Như vậy, các mô hình này dự đoán rằng, việc bãi bỏ các quy định dẫn đến sự gia nhập và cạnh tranh nhiều hơn, ví dụ như trường hợp ở Mỹ trong những năm 1970 và 1980 và ở nhiều thị trường mới nổi sẽ dẫn đến sự đổ vỡ nhiều hơn.
- Lý thuyết cạnh tranh - ổn định 3 Charter value 11 Mặc dù giả thuyết về giá trị đặc quyền dự đoán rằng các hệ thống ngân hàng tập trung và kém cạnh tranh hơn sẽ ổn định hơn, nhưng quan điểm trái ngược lại là cấu trúc ngân hàng tập trung hơn mang lại tính dễ đổ vỡ hơn cho hệ thống ngân hàng. Lý thuyết này dựa trên mô hình chuyển đổi rủi ro (Risk-shifting Paradigm), quan điểm này cho rằng hệ thống ngân hàng sẽ ổn định hơn khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng tăng lên. Quyền lực thị trường trong ngành ngân hàng tăng lên khi mức độ tập trung thị trường lớn có thể khiến các ngân hàng lớn tăng mức lãi suất cho vay lên để tối đa hóa lợi nhuận và điều này khiến các khách hàng vay được vốn thường là những khách hàng có mức độ rủi ro cao hơn, từ đó khiến cho xác suất vỡ nợ của các khoản vay này cao hơn, trở thành nợ xấu của ngân hàng và gây ra sự mất ổn định lớn hơn trong hệ thống ngân hàng (De Nicoló và cộng sự, 2006). Những người ủng hộ quan điểm "cạnh tranh - ổn định" cho rằng (i) so với hệ thống ngân hàng phân tán, hệ thống ngân hàng tập trung thường có ít ngân hàng hơn và (ii) các nhà hoạch định chính sách quan tâm nhiều hơn đến thất bại của ngân hàng khi chỉ có một số ít ngân hàng trên thị trường.
Dựa vào những giả định này, các ngân hàng trong hệ thống tập trung sẽ có xu hướng nhận được các khoản trợ cấp hay sự giúp đỡ lớn hơn từ cơ quan quản lý giám sát thông qua các chính sách "quá lớn" hoặc "quá lớn để đổ vỡ" ngầm làm tăng động cơ gây rủi ro do vấn đề rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh. Điều đó làm tăng tính đổ vỡ của hệ thống ngân hàng hơn trong trường hợp thị trường có ít ngân hàng (Mishkin, 1999).