Phân Tích Cấu Trúc Thị Trường Ngân Hàng Tại Việt Nam: Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học

Báo cáo chuyên đề kinh tế về Phân tích cấu trúc thị trường trong lĩnh vực ngân hàng tại việt nam báo cáo đề tài nghiên cứu khoa, điều tra khảo sát thực tế, phân tích tổng hợp kết

Chuyên ngành

Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo Cáo Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học

2019

68
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3. LÝ DO NGHIÊN CỨU

1.4. TÍNH MỚI, SÁNG TẠO CỦA ĐỀ TÀI

1.5. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.5.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.3. Nội dung nghiên cứu

1.5.4. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ LỢI ÍCH CỦA ĐỀ TÀI

1.7. KẾT CẤU NỘI DUNG

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

2.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

2.1.1. Khái niệm về cấu trúc thị trường

2.1.2. Mối quan hệ giữa mức độ tập trung và cạnh tranh trong thị trường ngân hàng đến sự ổn định tài chính

2.1.3. Cấu trúc thị trường trong lĩnh vực ngân hàng

2.2. BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2017

3.1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2017

3.1.1. Diễn biến sáp nhập, hợp nhất, mua lại tại các NHTM Việt Nam

3.1.2. Quy mô tổng tài sản

3.1.3. Hoạt động huy động vốn

3.1.4. Dư nợ cho vay

3.1.5. Khả năng sinh lời

3.1.6. Mức độ đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ

3.1.7. Dự phòng rủi ro tín dụng

3.2. CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2017

3.2.1. Về cấu trúc thị trường cạnh tranh

3.2.2. Mức độ tập trung trong nhóm các ngân hàng lớn nhất

3.2.3. SO SÁNH VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.1. Về mức độ tập trung của thị trường

4.2. Về mức độ tập trung nhóm

4.3. MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.3.1. Đối với các ngân hàng thương mại

4.3.2. Đối với các cơ quan quản lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cấu Trúc Ngân Hàng Việt Nam

Cấu trúc ngân hàng tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến đổi trong giai đoạn 2008 - 2017. Sự thay đổi này không chỉ liên quan đến số lượng ngân hàng mà còn về quy mô và loại hình sở hữu. Theo lý thuyết cấu trúc thị trường, mức độ tập trung được đo lường thông qua các chỉ số như CR3, CR5 và HHI. Các chỉ số này cho thấy rằng thị trường ngân hàng Việt Nam đang ở mức cạnh tranh cao, với sự hiện diện của nhiều ngân hàng thương mại lớn. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có lo ngại về sự gia tăng mức độ độc quyền, thực tế cho thấy cấu trúc thị trường vẫn duy trì tính cạnh tranh. Điều này được khẳng định qua việc phân tích các chỉ số tài chính liên quan đến tổng tài sản, thị phần huy động vốn và cho vay.

1.1 Tình Hình Ngân Hàng Thương Mại

Ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể về quy mô và số lượng trong giai đoạn 2008 - 2017. Sự sáp nhập và hợp nhất giữa các ngân hàng đã tạo ra một hệ thống ngân hàng mạnh mẽ hơn. Theo dữ liệu thu thập được, tổng tài sản của các ngân hàng thương mại đã tăng trưởng ổn định, cho thấy sức mạnh tài chính của ngành ngân hàng. Các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV đã chiếm lĩnh thị trường với tỷ lệ thị phần cao. Tuy nhiên, sự cạnh tranh vẫn diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt giữa các ngân hàng nhỏ hơn. Điều này thể hiện qua việc các ngân hàng này phải liên tục cải tiến dịch vụ và sản phẩm để thu hút khách hàng.

II. Phân Tích Cấu Trúc Thị Trường

Phân tích cấu trúc thị trường trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam cần được thực hiện dựa trên các tiêu chí như mức độ tập trung và tính cạnh tranh. Các chỉ số CR3 và CR5 cho thấy rằng ba ngân hàng lớn nhất và năm ngân hàng lớn nhất chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản và thị phần cho vay. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ cạnh tranh không bị suy giảm, mà ngược lại, đã có sự gia tăng trong tính cạnh tranh giữa các ngân hàng. Điều này có thể được giải thích bởi sự gia tăng trong số lượng ngân hàng và sự đa dạng hóa dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp.

2.1 Mức Độ Tập Trung

Mức độ tập trung trong thị trường ngân hàng được đo lường bằng các chỉ số như HHI, cho thấy rằng thị trường này không chỉ có sự hiện diện của các ngân hàng lớn mà còn có sự tham gia của nhiều ngân hàng nhỏ. Mặc dù có sự lo ngại về việc một số ngân hàng lớn có thể dẫn đến độc quyền, nhưng thực tế cho thấy rằng sự cạnh tranh vẫn diễn ra mạnh mẽ. Các ngân hàng nhỏ hơn đã có những chiến lược riêng để cạnh tranh, chẳng hạn như cung cấp dịch vụ tốt hơn và lãi suất hấp dẫn hơn. Điều này cho thấy rằng thị trường ngân hàng vẫn duy trì được sự cạnh tranh, bất chấp sự gia tăng quy mô của một số ngân hàng lớn.

III. Đề Xuất Chính Sách

Dựa trên những phân tích đã thực hiện, nghiên cứu đề xuất một số chính sách nhằm cải thiện cấu trúc thị trường ngân hàng tại Việt Nam. Đầu tiên, cần khuyến khích sự phát triển của các ngân hàng thương mại nhỏ nhằm duy trì tính cạnh tranh trong toàn ngành. Thứ hai, các cơ quan quản lý cần xem xét các chính sách hỗ trợ cho các ngân hàng nhỏ, giúp họ có thể phát triển bền vững và cạnh tranh với các ngân hàng lớn. Cuối cùng, cần có các chính sách nhằm tăng cường sự minh bạch trong hoạt động của các ngân hàng, từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn.

3.1 Khuyến Khích Ngân Hàng Nhỏ

Để duy trì tính cạnh tranh trong thị trường ngân hàng, việc khuyến khích sự phát triển của các ngân hàng nhỏ là rất quan trọng. Các ngân hàng này thường có khả năng cung cấp dịch vụ khách hàng tốt hơn và linh hoạt hơn so với các ngân hàng lớn. Chính phủ và các cơ quan quản lý nên xem xét việc tạo ra các chương trình hỗ trợ tài chính và đào tạo cho các ngân hàng nhỏ, giúp họ cải thiện quy trình hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều này không chỉ giúp các ngân hàng nhỏ tồn tại mà còn góp phần làm phong phú thêm thị trường ngân hàng Việt Nam.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 cũng trình bày về mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu, trong đó việc đánh giá mức độ cạnh tranh của thị trường được đo lường thông qua các chỉ số tập trung (CRk và HHI). Nghiên cứu sẽ góp phần tổng hợp dữ liệu chung về cấu trúc thị trường ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2008- 2017 và sẽ bổ sung cơ sở khoa học trong nghiên cứu về hoạt động ngân hàng. 7 2   CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 2.1   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 2.1   Khái niệm về cấu trúc thị trường Cấu trúc thị trường là một thuật ngữ mô tả hành vi của người bán và người mua trong thị trường. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh hay mức độ độc quyền mà chia ra các cấu trúc thị trường sau: (1) Cạnh tranh hoàn toàn; (2) Độc quyền hoàn toàn; (3) Cạnh tranh độc quyền; (4) Độc quyền nhóm.

Sự khác nhau giữa các cấu trúc thị trường thường được xem xét thông qua: số lượng người bán người mua, tính đồng nhất hay sự giống nhau của sản phẩm, sức mạnh thị trường, rào cản gia nhập thị trường, cạnh tranh qua giá và cạnh tranh phi giá. Cấu trúc thị trường cạnh tranh hay độc quyền được quyết định bởi sức mạnh thị trường của các chủ thể tham gia được nhận diện thông qua mức độ tập trung. Mức độ tập trung càng cao, sức mạnh thị trường càng lớn, khả năng chi phối thị trường càng mạnh, tính độc quyền của thị trường càng cao (Begg, 2007). Theo Schiller (2010) cấu trúc thị trường là số lượng và quy mô tương đối của các hãng trong một ngành, cấu trúc thị trường trải dài từ cạnh tranh hoàn hảo tới độc quyền, bao gồm: -   Cạnh tranh hoàn hảo: là một thị trường mà trong đó không có người bán và người mua nào có sức mạnh thị trường; có sự cạnh tranh trực tiếp và công bằng giữa người mua và người bán; -   Cạnh tranh độc quyền: là một thị trường trong đó nhiều hãng sản xuất các hàng hoá dịch vụ tương tự nhau nhưng mỗi hãng duy trì sự kiểm soát độc lập nhất định với giá cả của mình; -   Độc quyền bán: là một thị trường trong đó một số ít hãng sản xuất kiểm soát toàn bộ hoặc hầu hết nguồn cung trên thị trường về một loại hàng hoá dịch vụ; 8 -   Lưỡng độc quyền: Một thị trường chỉ có 2 hãng cung cấp một hàng hoá hay dịch vụ nhất định; -   Độc quyền: Một hãng sản xuất toàn bộ nguồn cung trên thị trường về một loại hàng hoá dịch vụ nào đó.

Như vậy, sức mạnh thị trường sẽ được cấu thành bởi các yếu tố: (1) Số lượng sản phẩm sản xuất; (2) Quy mô từng hãng; (3) Rào cản gia nhập; (4) Tính sẵn có của hàng hóa thay thế. Và theo Schiller (2010) để đánh giá sức mạnh của thị trường thì đánh giá thông qua mức độ (tỷ lệ) tập trung. Mức độ tập trung là một thước đo sức mạnh thị trường gắn liền quy mô hãng với quy mô thị trường sản phẩm. Sự khác biệt giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền Độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo đánh dấu hai thái cực của cấu trúc thị trường, tuy nhiên có một số điểm tương đồng giữa các công ty trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo và các công ty độc quyền.

Cả hai đều phải đối mặt với cùng mức chi phí và hàm sản lượng và cả hai đều cố gắng tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên vẫn có một số khác biệt chính được nêu trong Bảng 2.1: Sự khác biệt giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền Đặc điểm Độc quyền Cạnh tranh hoàn hảo Chỉ có một người bán và thực tế Có một số lượng lớn người mua Người mua tất cả người mua phụ thuộc vào và người bán, do đó không có và người người bán này, do đó nó có quyền người mua và người bán nào có bán kiểm soát tuyệt đối trên thị thể làm thay đổi giá trên thị trường. Cung cấp từ một người bán, do dó Nguồn cung đến từ một số Cung kiểm soát tuyệt đối nguồn cung lượng lớn những người bán Cầu không co giãn. Đường cầu Cầu co giãn hoàn toàn.

Đường Cầu dốc xuống cầu là đường thẳng ngang Sản phẩm Sản phẩm đồng nhất Sản phẩm đồng nhất 9 Bản chất Không có giá và sản phẩm cạnh Sự cạnh tranh hoàn hảo về giá của cạnh tranh cả tranh Giá cao hơn. Cao hơn tất cả giá cả Giá cả Giá tiêu chuẩn P = MR = MC cạnh tranh P > MR = MC2 Sản lượng nhỏ do người bán duy Sản lượng lớn được cố định bởi Sản lượng nhất ấn định MR = MC Kiếm được lợi nhuận độc quyền Lợi nhuận bình thường do cạnh Lợi nhuận vượt trội tranh giá Độc quyền thuần túy rất hiếm Ứng dụng nhưng các yếu tố độc quyền đang Khá phi thực tế có trong thị trường Nguồn: (Karimani & Saeedi Manesh, 2017) 2.2   Mối quan hệ giữa mức độ tập trung và cạnh tranh trong thị trường ngân hàng đến sự ổn định tài chính Các mô hình lý thuyết đã đưa ra những kết luận hay dự đoán trái ngược nhau về mối quan hệ giữa tập trung ngân hàng, sự cạnh tranh và ổn định tài chính. Trong nghiên cứu thực nghiệm, hiện có hai lý thuyết chính liên quan đến sự ảnh hưởng của mức độ tập trung và cạnh tranh trên thị trường ngân hàng mà ảnh hưởng đến nền kinh tế. Tùy thuộc vào mô hình dự báo mà nó có mối quan hệ cùng chiều hay trái chiều giữa mức độ cạnh tranh và sự ổn định.

Lý thuyết thứ nhất là lý thuyết cạnh tranh – đổ vỡ (Competition-fragility Hypotheses) và lý thuyết thứ hai là lý thuyết cạnh tranh - ổn định (Competition-stability hypotheses) (Beck, 2008). -   Lý thuyết cạnh tranh – đổ vỡ 2 MR (Marginal Revenue): Doanh thu cận biên; MC (Marginal Revenue): Chi phí cận biên 10 Một số mô hình dự đoán rằng hệ thống ngân hàng càng tập trung và càng ít cạnh tranh hơn thì sẽ ổn định hơn, vì lợi nhuận tạo ra một tấm đệm trước sự đổ vỡ và tạo động lực để ngăn ngừa rủi ro quá mức. Lý thuyết cạnh tranh – đổ vỡ dựa trên ý tưởng của lý thuyết về giá trị thương hiệu (Franchise Value Hypothesis). Ý tưởng của lý thuyết này là các ngân hàng giới hạn rủi ro của họ để bảo vệ lợi ích gần như độc quyền được thừa nhận bởi đặc quyền của chính phủ.

Cạnh tranh gia tăng sẽ làm giảm phần lợi ích và đặc quyền đó, điều này sẽ dẫn đến rủi ro ngân hàng lớn hơn và sự bất ổn tài chính cao hơn. Lý thuyết này dựa trên ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh tới hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, nếu mức độ cạnh tranh thị trường tăng lên, lợi nhuận của các ngân hàng sẽ giảm xuống, ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị thương hiệu và do vậy, các ngân hàng sẽ sẵn sàng chấp nhận mức rủi ro trong hoạt động của mình cao hơn nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong tình hình cạnh tranh căng thẳng. Tóm lại, nếu như mức độ cạnh tranh cao hơn (mức độ tập trung thị trường nhỏ hơn), sẽ làm hệ thống ngân hàng bất ổn định và dễ đổ vỡ hơn. Quan điểm của ngân hàng về “giá trị đặc quyền3” theo lý thuyết được (Marcus, 1984) mô tả, các ngân hàng lựa chọn rủi ro trong danh mục tài sản của mình, tuy nhiên, chủ ngân hàng có động cơ để di chuyển rủi ro cho những người gửi tiền, nhưng trong trách nhiệm hữu hạn của mình, họ chỉ tham gia một phần của việc chấp nhận rủi ro này.

Trong môi trường cạnh tranh hơn, với nhiều sức ép hơn về lợi nhuận, các ngân hàng có động cơ cao hơn để gây rủi ro quá mức, dẫn đến sự đổ vỡ cao hơn. Mặt khác, các ngân hàng có cơ hội kiếm được lợi nhuận tốt hơn và do đó có ít động cơ để gây rủi ro hơn, đồng thời có những tác động tích cực đối với sự ổn định tài chính. Ngoài ra, trong môi trường cạnh tranh hơn, các ngân hàng thường giảm bớt các quy định khắt khe để có nhiều khách hàng để cho vay hơn, điều này làm tăng thêm nguy cơ vỡ nợ. Như vậy, các mô hình này dự đoán rằng, việc bãi bỏ các quy định dẫn đến sự gia nhập và cạnh tranh nhiều hơn, ví dụ như trường hợp ở Mỹ trong những năm 1970 và 1980 và ở nhiều thị trường mới nổi sẽ dẫn đến sự đổ vỡ nhiều hơn.

-   Lý thuyết cạnh tranh - ổn định 3 Charter value   11 Mặc dù giả thuyết về giá trị đặc quyền dự đoán rằng các hệ thống ngân hàng tập trung và kém cạnh tranh hơn sẽ ổn định hơn, nhưng quan điểm trái ngược lại là cấu trúc ngân hàng tập trung hơn mang lại tính dễ đổ vỡ hơn cho hệ thống ngân hàng. Lý thuyết này dựa trên mô hình chuyển đổi rủi ro (Risk-shifting Paradigm), quan điểm này cho rằng hệ thống ngân hàng sẽ ổn định hơn khi mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng tăng lên. Quyền lực thị trường trong ngành ngân hàng tăng lên khi mức độ tập trung thị trường lớn có thể khiến các ngân hàng lớn tăng mức lãi suất cho vay lên để tối đa hóa lợi nhuận và điều này khiến các khách hàng vay được vốn thường là những khách hàng có mức độ rủi ro cao hơn, từ đó khiến cho xác suất vỡ nợ của các khoản vay này cao hơn, trở thành nợ xấu của ngân hàng và gây ra sự mất ổn định lớn hơn trong hệ thống ngân hàng (De Nicoló và cộng sự, 2006). Những người ủng hộ quan điểm "cạnh tranh - ổn định" cho rằng (i) so với hệ thống ngân hàng phân tán, hệ thống ngân hàng tập trung thường có ít ngân hàng hơn và (ii) các nhà hoạch định chính sách quan tâm nhiều hơn đến thất bại của ngân hàng khi chỉ có một số ít ngân hàng trên thị trường.

Dựa vào những giả định này, các ngân hàng trong hệ thống tập trung sẽ có xu hướng nhận được các khoản trợ cấp hay sự giúp đỡ lớn hơn từ cơ quan quản lý giám sát thông qua các chính sách "quá lớn" hoặc "quá lớn để đổ vỡ" ngầm làm tăng động cơ gây rủi ro do vấn đề rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh. Điều đó làm tăng tính đổ vỡ của hệ thống ngân hàng hơn trong trường hợp thị trường có ít ngân hàng (Mishkin, 1999).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phân Tích Cấu Trúc Thị Trường Ngân Hàng Tại Việt Nam: Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học" của nhóm tác giả từ Trường Đại Học Ngân Hàng Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Ts. Nguyễn Thế Bính, cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ cấu và hoạt động của thị trường ngân hàng tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố cấu thành mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội mà ngành ngân hàng đang phải đối mặt trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin giá trị giúp họ hiểu rõ hơn về tình hình và xu hướng của thị trường ngân hàng, từ đó có thể áp dụng vào các quyết định đầu tư hoặc quản lý tài chính cá nhân.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của ngân hàng, hãy khám phá thêm về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank, nơi phân tích cách thức quản lý rủi ro tín dụng trong lĩnh vực cho vay doanh nghiệp. Ngoài ra, bài viết về Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Cuối cùng, nghiên cứu về Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Á Châu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, một phần quan trọng trong cấu trúc thị trường ngân hàng.