CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Cấu trúc tài chính a. Khái niệm Thuật ngữ cấu trúc tài chính được nhiều nhà kinh tế sử dụng.
Thuật ngữ này được sử dụng để phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu. Chúng ta sẽ xem xét một số khái niệm về cấu trúc tài chính: - Theo M.Dubois, một giáo sư chuyên nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp của đại học Pierre Mendes France, thì cấu trúc tài chính là quan hệ giữa các nguồn vốn được sử dụng bởi doanh nghiệp, đó là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ.Albouy, một trong những giáo sư hàng đầu của Pháp, thì cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ kể cả các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán.Myers thì cấu trúc tài chính là một khái niệm được dùng để phản ánh mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy, cấu trúc tài chính theo quan điểm của các nhà kinh tế là tương đối đồng nhất, và được hiểu một cách chung nhất là cấu trúc tài chính phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và toàn bộ nợ phải trả được tính toán từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính Xuất phát từ khái niệm trên cho thấy cấu trúc tài chính thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp nên khi phân tích cấu trúc tài chính cần xem xét mức độ sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu hay nguồn vốn vay nợ từ bên ngoài.
Khả năng này thể hiện qua chỉ tiêu sau: Tỷ suất nợ = Chỉ tiêu tỷ suất nợ cho biết mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ, nghĩa là cho biết bao nhiêu phần trăm tổng tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các khoản nợ. Khi tỷ suất nợ cao thì mức độ phụ thuộc vào chủ nợ càng lớn, khả năng tiếp cận các khoản vay nợ càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ hay hiệu quả hoạt động kém. Đối với chủ nợ khi họ thấy doanh nghiệp này có tỷ lệ nợ cao thì khả năng thu hồi vốn cho các khoản nợ của họ càng thấp. Tỷ suất nợ thấp có thể cho thấy mức độ đầu tư vào tài sản phụ thuộc vào nợ thấp, còn hệ số nợ cao thể hiện gánh nặng về nợ lớn.
Do đó một tỷ suất nợ thấp luôn được các chủ nợ ưa thích hơn. Tỷ suất nợ trên VCSH = ố ủ ở ữ Chỉ tiêu nợ trên VCSH hay còn gọi là đòn cân nợ thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi VCSH, phản ánh tính tự chủ tài chính, năng lực tài chính, khả năng chủ động của doanh nghiệp về nguồn vốn kinh doanh. Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 nghĩa là các khoản nợ phải trả nhỏ hơn VCSH lúc đó doanh nghiệp còn chủ động về vốn kinh doanh. Ngược lại khi chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì khả năng thanh toán các khoản nợ giảm, doanh nghiệp khó tự chủ về tài chính, tình trạng phá sản dễ xảy ra, hiệu ứng đòn cân nợ giảm.
Luan van 11 Ngoài hai chỉ tiêu trên ta còn xem xét thêm cơ cấu nợ thông qua tỷ suất nợ ngắn hạn và tỷ suất nợ dài hạn. Hai chỉ tiêu này phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán tuy nhiên mỗi chỉ tiêu sẽ phản ánh chi phí sử dụng và áp lực trả nợ khác nhau. Tỷ suất nợ ngắn hạn = Tỷ suất nợ dài hạn = 1. Phân tích cấu trúc tài chính Phân tích cấu trúc tài chính là phân tích tình hình đầu tư, huy động vốn của doanh nghiệp thông qua việc xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tình hình tài chính hiện tại so với quá khứ.
Từ đó có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro tài chính của doanh nghiệp và đưa ra các phương thức tài trợ để giảm thiểu rủi ro, tăng triển vọng phát triển trong tương lai. Đối với doanh nghiệp, phân tích cấu trúc tài chính là một trong những coogn cụ phục vụ đắc lực cho công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, là cơ sở khoa học để ra quyết định quản lý tài chính. Nguồn thông tin được cung cấp từ phân tích cấu trúc tài chính là cơ sở để nhà đầu tư xem xét và quyết định xem có nên đầu tư vào doanh nghiệp hây không, đầu tư như thế nào và bao nhiêu là hợp lý. Lý thuyết về cấu trúc tài chính a.
Lý thuyết của Modigliani và Miller (Lý thuyết M&M) Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài viết của Modigliani và Miller vào năm 1958 (gọi tắt là học thuyết M&M). Theo học thuyết M&M, sự lựa chọn giữa vốn chủ sở hữu và nợ không liên quan đến giá trị của công ty trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo. Luan van 12 Năm 1963, Modilligani và Miller (M&M) lập luận rằng khi có thuế thu nhập doanh nghiệp thì các khoản lãi phải trả được khấu trừ thuế, đầu tư bằng vay nợ 100% là tối ưu. Vì chi phí lãi vay là chi phí được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư.
Về nội dung, lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề là giá trị doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn với hai trường hợp là môi trường không có thuế và môi trường có thuế. - Trường hợp không có thuế Các giả định: (1) Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân (2) Không có chi phí giao dịch (3) Không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính (4) Lãi suất vay giống nhau đối với cá nhân và công ty (5) Thị trường vốn là hoàn hảo * Mệnh đề 1: Trong điều kiện không có thuế thì giá trị công ty có vay nợ (VL) bằng với giá trị công ty không vay nợ (VU), VL = VU. Vì vậy không có cơ cấu vốn nào là tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng các thay đổi cơ cấu vốn. Giả sử có hai doanh nghiệp U và L giống hệt nhau, ngoại trừ U không có vay nợ và L có vay nợ.
U và L có cùng ngân lưu tự do hàng năm FCF và cùng lợi nhuận trước thuế và lãi vay EBIT. Doanh nghiệp U: Tổng giá trị doanh nghiệp là VU Doanh nghiệp L: Tổng giá trị doanh nghiệp là VL VL = D + E Trong đó: D: nợ vay (với lãi suất là rD) Luan van 13 E: Vốn chủ sở hữu - Chiến lược đầu tư A: mua toàn bộ doanh nghiệp L + Tổng số tiền đầu tư bỏ ra: E = VL – D + Tổng lợi nhuận hưởng hàng năm = lợi nhuận của L: EBIT – lãi vay = EBIT – rD*D - Chiến lược đầu tư B: vay nợ với lãi suất rD cộng thêm vơi vốn tự có để mua toàn bộ doanh nghiệp U. + Tổng số tiền đầu tư bỏ ra: VU – D + Tổng lợi nhuận hưởng hàng năm = Lợi nhuận của U – Lãi vay phải trả cho khoản vay nợ = EBIT – rD*D - So sánh chiến lược đầu tư A và B Chiến lược A Số tiền đầu tư bỏ ra Lợi nhuận hàng năm Mua doanh nghiệp L E = VL – D EBIT – rD*D bằng vốn tự có Chiến lược B Số tiền đầu tư bỏ ra Lợi nhuận hàng năm Mua doanh nghiệp U VU – D EBIT – rD*D bằng nợ và vốn tự có A và B cho cùng mức lợi nhuận hàng năm A và B đòi hỏi cùng một chi phí đầu tư. E = VL – D = VU – D VL = VU Luan van 14 * Mệnh đề 2: Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ lệ nợ ( ) Trong đó: rE: lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần rD: lãi suất hay chi phí sử dụng nợ rU: chi phí sử dụng vốn khi công ty sử dụng 100% vốn cổ phần D: giá trị nợ hay trái phiếu của công ty phát hành E: giá trị vốn cổ phần của công ty Khi một doanh nghiệp tăng sử dụng đòn bẩy tài chính tức là tăng sử dụng nợ trong cơ cấu vốn thì rủi ro tài chính hay rủi ro mất khả năng thanh toán mà doanh nghiệp gặp phải cũng gia tăng.
Do đó, lợi nhuận trên vốn cổ phần cũng phải tăng lên. Như vậy, trong trường hợp không có thuế thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. - Trường hợp có thuế Các giả định của lý thuyết M&M gần như không thay đổi. Lý thuyết M&M sẽ được xem xét trong trường hợp giả định môi trường có thuế.
Doanh nghiệp U không có vay nợ: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay hàng năm: EBIT Lãi vay phải trả: 0 Lợi nhuận chịu thuế: EBIT Thuế: EBIT*T Lợi nhuận sau thuế: EBIT*(1-T) Luan van 15 Doanh nghiệp L có vay nợ D với lãi suất rD: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay hàng năm: EBIT Lãi vay phải trả: rD*D Lợi nhuận chịu thuế: EBIT - rD*D Thuế: (EBIT - rD*D) * T Lợi nhuận sau thuế: EBIT * (1-T) + rD*D*T Lợi nhuận sau thuế hàng năm của doanh nghiệp L lớn hơn U một khoản bằng rD*D*T. Hàng năm, L tạo thêm một khoản ngân lưu so với U là rD*D*T rD*D*T được gọi là lá chắn thuế của nợ vay * Mệnh đề 1: Giá trị doanh nghiệp có vay nợ (VL) bằng giá trị công ty không vay nợ (VU) cộng với hiện giá của lá chắn thuế, VL = VU + T*D Trong đó: T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D: tổng số nợ sử dụng Trong trường hợp có thuế, khi công ty vay nợ thì tiết kiệm được thuế do lợi ích tấm chắn thuế từ lãi vay. Do đó, giá trị công ty vay nợ sẽ lớn hơn công ty không vay nợ nhờ lợi ích từ thuế mà doanh nghiệp tiết kiệm được. Như vậy, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp.
Sử dụng nợ càng nhiều thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% từ nợ.