CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về cấu trúc tài chính và phân tích cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về cấu trúc tài chính và phân tích cấu trúc tài chính Khái niệm cấu trúc tài chính Cấu trúc tài chính là một khái niệm rộng là một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp trên hai mặt; thứ nhất cơ cấu nguồn vốn gắn liền với quá trình huy động vốn, phản ánh chính sách tài trợ của doanh nghiệp; thứ hai cơ cấu tài sản gắn liền với quá trình sử dụng vốn, chịu sự tác động của những đặc điểm và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác thể hiện mối liên hệ và sự vận động của các yếu tố nguồn vốn và tài sản nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính Phân tích cấu trúc tài chính là phân tích khái quát tình hình đầu tư và huy động vốn của doanh nghiệp, chỉ ra các phương thức tài trợ tài sản để làm rõ những dấu hiệu về cân bằng tài chính. Phân tích cấu trúc tài chính bao gồm phân tích cấu trúc tài sản, phân tích cấu trúc nguồn vốn và phân tích cân bằng tài chính. (Nguyễn Ngọc Quang, 2010, Tr. 98) Phân tích cấu trúc tài chính là tiến hành phân tích quy mô, kết cấu tài sản và nguồn vốn nhằm đánh giá sự hợp lý của cấu trúc tài chính, đồng thời có thể đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc tài chính đến cân bằng tài chính, hiệu quả và rủi ro của doanh nghiệp.
( Đỗ Huyền Trang, Lê Mộng Huyền, 2016, Tr. Mục đích của phân tích cấu trúc tài chính Mục đích của phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp nhằm đánh giá đặc trưng trong cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với nhau. Qua đó tự đánh giá khả năng luân chuyển vốn, phát hiện những dấu hiệu không tốt trong quản lý tổ chức. Là công cụ đánh giá khả năng và tính chắc chắn tình hình sử dụng vốn có hiệu quả nhất về nguồn vốn kinh doanh, tình hình thanh toán Công ty.
4 - Đối với bản thân doanh nghiệp: Phân tích cấu trúc tài chính nhằm giúp cho doanh nghiệp thấy được tình hình đầu tư và huy động vốn từ đó có thể dự đoán được hiệu quả hoặc rủi ro tài chính có thể xảy ra và dự kiến chiến lược phát triển của mình. Khi phân tích cấu trúc tài sản nhà quản lí có thể điều chỉnh từng loại tài sản tùy theo doanh nghiệp, tùy theo chính sách phát triển của mình mà có thể tăng hay cắt giảm hàng tồn kho, nên đầu tư vào loại tài sản nào, thời điểm nào. Khi phân tích cấu trúc nguồn vốn nhà quản trị có thể thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp ổn định, tự chủ và cân bằng hay không từ đó điều chỉnh cấu trúc nguồn vốn hợp lí. - Đối với nhà quản trị tại công ty: Phân tích CTTC và CBTC tại công ty nhằm tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về tình hình tài chính tại công ty, từ đó xây dựng những giải pháp tài chính về cấu trúc tài sản, nguồn vốn thích hợp để đưa ra những phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, có chính sách tài trợ phù hợp, khai thác tốt tiềm lực tài chính công ty.
- Đối với chủ sở hữu: Phân tích CTTC và CBTC của công ty giúp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, đánh giá sự an toàn, tiềm lực tài chính của đồng vốn đầu tư vào công ty. - Đối với khách hàng, chủ nợ: Phân tích CTTC và CBTC của công ty giúp đánh giá đúng đắn khả năng đảm bảo đồng vốn. Ý nghĩa của phân tích cấu trúc tài chính Qua việc phân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính nhà phân tích sẽ nắm được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản. Những thông tin này là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý ra các quyết định điều chỉnh chính sách huy động và sử dụng vốn, bảo đảm cho doanh nghiệp có một CTTC lành mạnh, hiệu quả và tránh được rủi ro kinh doanh.
( Đỗ Huyền Trang, Lê Mộng Huyền, 2016, Tr. 27) Như vậy phân tích cấu trúc tài chính bao gồm: - Phân tích cấu trúc tài sản: Sẽ giúp nhà phân tích đánh giá được tình hình sử dụng vốn đã huy động, biết được việc sử dụng vốn của doanh nghiệp có phù hợp với đặc điểm và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, có mang lại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hay có đáp ứng được các mục tiêu đặt ra của doanh nghiệp. (Đỗ Huyền Trang, Lê Mộng Huyền, 2016, Tr. 27) - Phân tích cấu trúc nguồn vốn: Giúp nhà phân tích đánh giá những đặc trưng trong cơ cấu nguồn vốn cũng như tính hợp lý trong việc huy động vốn, phản ánh sự 5 huy động vốn của doanh nghiệp, nhằm đánh giá độ an toàn, tính ổn định trong nguồn tài trợ của doanh nghiệp.
Khi phân tích cấu trúc nguồn vốn không chỉ xem xét sự biến động về quy mô mà còn đánh giá tính tự chủ và ổn định của nguồn tài trợ. - Phân tích cân bằng tài chính: Giúp cho nhà phân tích biết được sự ổn định, cân đối và an toàn trong việc tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính. Phân tích cân bằng tài chính còn là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn chính sách tài trợ hợp lý. Cân bằng tài chính được xem trên cả khía cạnh đó là cân bằng tài chính dài hạn và cân bằng tài chính ngắn hạn.
(Đỗ Huyền Trang, Lê Mộng Huyền, 2016, Tr. Phương pháp và tài liệu phân tích cấu trúc tài chính 1. Phương pháp phân tích 1. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích.
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá kết quả, chỉ ra sự khác biệt, xác định nhịp điệu, tốc độ và xu hướng biến động khái quát của từng chỉ tiêu trong khoản thời gian ngắn nhất về tình hình hoạt động của doanh nghiệp giữa các kỳ kinh doanh khác nhau, phục vụ việc ra quyết định kinh doanh. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo những nội dung sau đây: Thứ nhất, về điều kiện so sánh: Để có thể so sánh được, số liệu của các chỉ tiêu so sánh phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, đơn vị đo lường, phạm vi, thời gian và quy mô không gian xác định. Do đó khi so sánh có sự khác biệt về nội dung kinh tế, phương pháp tính toán và đơn vị đo lường của các chỉ tiêu, nhà phân tích cần quy đổi và tính toán lại trị số gốc của chỉ tiêu theo nội dung mới, theo phương pháp thống nhất, theo cùng một đơn vị đo lường, lựa chọn các chỉ tiêu trong khoảng thời gian và quy mô không gian thống nhất rồi mới tiến hành so sánh. Thứ hai, xác định về gốc so sánh: Để có thể so sánh được, cần lựa chọn các chỉ tiêu để làm căn cứ so sánh hay còn gọi là gốc so sánh.
Tùy theo mục đích so sánh mà gốc so sánh được lựa chọn thích hợp. 6 Về mặt thời gian: Gốc so sánh có thể là tài liệu thực tế kỳ trước nhằm đánh giá sự biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu thực tế kỳ này; các mục tiêu đã dự kiến (dự toán, kế hoạch, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức; hay các điểm thời gian (năm, tháng, ngày cụ thể …) nhằm đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ hay mức độ đạt được của chỉ tiêu nghiên cứu trong cùng khoảng thời gian. Việc lựa chọn gốc so sánh theo thời gian sẽ có thể đánh giá kết quả đạt được, mức độ và xu hướng tăng cường của các chỉ tiêu phân tích. Bên cạnh đó, trong một vài trường hợp để xác định xu hướng hay nhịp điệu tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích, gốc có thể được cố định tại một kỳ cụ thể trong khi kỳ hay điểm so sánh liên tục so sánh, gọi là so sánh định gốc; gốc so sánh và cả kỳ hay điểm so sánh đều thay đổi liên tục, gọi là so sánh liên hoàn.
Về mặt không gian: Gốc so sánh được lựa chọn cũng có thể là chỉ tiêu tổng thể nhằm đánh giá mức độ phổ biến của chỉ tiêu bộ phận; chỉ tiêu của đơn vị khác có cùng điều kiện hay chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực kinh doanh, nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu,…Thông thường gốc so sánh này doanh nghiệp khó tiếp cận và có thông tin, hơn nữa hiện nay tiêu chuẩn chung của một ngành chưa được quan tâm đúng mức. Thứ ba, dạng so sánh: Phương pháp so sánh được thể hiện dưới hai dạng sau: Dạng thứ nhất được gọi là so sánh bằng số tuyệt đối, kết quả so sánh biểu hiện cho sự biến động về khối lượng, quy mô của chỉ tiêu phân tích. Dạng thứ hai được gọi là so sánh bằng số tương đối, cách so sánh này cho thấy kết cấu mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các chỉ tiêu phân tích. Ngoài ra, các nhà phân tích còn sử dụng phương pháp so sánh có liên hệ giữa chỉ tiêu phân tích với một chỉ tiêu kinh tế tổng quát khác để thấy rõ khả năng tận dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
Thứ tư, hình thức so sánh: so sánh ngang (so sánh giữa các kỳ), so sánh dọc (so sánh kết cấu), so sánh bằng số bình quân (so sánh với số trung bình ngành hoặc bình quân của một thời kỳ). Ưu điểm của phương pháp so sánh là đơn giản dễ thực hiện, song khi sử dụng phương pháp này để cho thấy rõ xu hướng phát triển của đối tượng phân tích thì cần xem xét chúng qua nhiều kỳ liên tiếp hoặc có thể lâu hơn. Tuy nhiên, nhược điểm của 7 phương pháp so sánh đó là khi dùng phương pháp này thì các nhà phân tích và các nhà quản lý chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá trạng thái biến đổi tăng lên hay giảm xuống của các chỉ tiêu mà không thấy được bản chất dẫn đến sự biến đổi đó, hay nói cách khác phương pháp so sánh chưa thể giúp xác định nguyên nhân để đề xuất giải pháp.