chương 1 Ở chương l này tác giả đã nêu ra tổng quan nghiên cứu gồm lý do chọn đề tài, các mục tiêu của nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và lược khảo các công trình có liên quan đên đề tài nghiên cứu. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 TONG QUAN VE THANH PHO TRA VINH 2.1 Vi tri dia ly Thành phố Trà vinh có diện tích tự nhiên là 68,035km2 chiếm gần 3% diện tích của tỉnh. Nằm ở phía Nam sông Tiền có tọa độ địa lý từ 106018) đến 106025" kinh độ Đông và từ 9031' đến 1001 vĩ độ Bắc, có vị trí địa lý: Phía Bắc giáp huyện Càng Long: Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Châu Thành; Phía Nam giáp huyện Châu Thành, Phía Tây và Tây giáp huyện Châu Thành. Thành phố Tra Vinh nằm bên bờ sông Tiền, trên Quốc lộ 53 và cách Thành phó Hồ Chí Minh khoảng 202 km và cách Thành phố Cần Thơ 100 km, cách bờ biên Đông 40 km, với hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy khá hoàn chỉnh thuận tiện đề phát triển kinh tế, văn hóa — xã hội với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh [12].2 Lịch sử hình thành và phát triển Tinh Tra vinh được thành lập năm 1900.
Thị xã Trà Vinh có vị trí thuận lợi đo nằm gần cửa sông Cô Chiên nên sớm trở thành trung tâm dịch vụ và sau đó là trung tâm hành chính, quân sự của tỉnh Trà Vĩnh. Từ năm 1955 đến năm 1975, tỉnh Trà Vinh được đổi tên thành tỉnh Vĩnh Bình, thị xã Vĩnh Bình vẫn là trung tâm tỉnh ly của tỉnh Vĩnh Bình. Từ năm 1975 đến năm 1991, năm 1975 Quốc hội khóa VI quyết định hợp nhất 2 tỉnh Trà Vinh va Vinh Long thành tính Cửu Long, với tỉnh ly là thị xã Vĩnh Long và thị xã Trà Vĩnh là trung tâm vùng phía Đông Nam của tỉnh. Sau gần 17 năm sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, đến 5/1992 tỉnh Cửu Long được chia tách thành 2 tỉnh: Vĩnh Long và Trà Vinh.
Và cũng từ đây thị xã Trà vinh đã và đang được đầu tư xây dựng, quy hoạch lại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành Trung tâm hành chính-Chính trị-Kinh tế-Văn hóa-Xã hội-An ninh-Quốc phòng của tỉnh [13].3 Dân số Dân số toàn thành phố đạt khoảng 160.310 người, trong đó dân tộc Khmer chiếm 19,96%, dân tộc Hoa chiếm 6,22%, dân tộc khác chiếm 0,2% và số đông còn lại là dân tộc Kinh. Toàn thành phố có khoáng 85.5I3 người trong độ tuổi lao động, mật độ dân 36 tăng tự nhiên hàng năm gần 1,35% [14]. Day là địa bàn cư trú lâu đời của dân tộc Khmer và Hoa có nền văn hóa đặc trưng của dân tộc riêng là tiếng nói, các món ăn truyền thống, lễ hội. Ngôn ngữ phô biến vẫn là Tiếng Việt, mặc dù dân tộc Khmer và Hoa có ngôn ngữ riêng nhưng họ vẫn chọn Tiếng Việt là ngôn ngữ chung hằng ngày 2.4 Điều kiện tự nhiên Với diện tích 68,05 km? chủ yếu gồm 03 nhóm đất chính là đất cát giồng, đất phù sa và đất phèn tiềm năng.
Tài nguyên thiên nhiên nước chủ yếu từ nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm khai thác từ sông, hỗ kênh, rạch. tuy nhiên trữ lượng nước không đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân. Chưa phát hiện có các loại khoáng sản mà chủ yếu là cát xây dựng ở xã Long Đức với trữ lượng không lớn, chất lượng thấp và phù thuộc vào dòng chảy của sông Cô Chiên. Ngoài ra, hiện nay trên địa bàn thành phố Trà Vinh có nhiều địa điểm du lịch gắn liền với văn hóa dân tộc như: Khu văn hóa du lịch ao Bà Om, Đền thờ Bác Hồ, các di tích cỗ đền, chùa và tiềm năng phát triển khu du lịch sinh thái ấp Long Trị, xã Long Đức [15].5 Văn hóa Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vĩnh có kho tàng văn hóa đa dạng, đặc biệt là văn hóa vat thé va phi vat thé của người Khmer.
Người Khmer có chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như: Lễ Ok Om Bok (lễ hội mừng năm mới), Dotal (lễ cúng ông bà), Chool Chnam Thmây (lễ cúng trăng), lễ Dâng Bông, Dâng Phước và các phong tục tập quán truyền thông của người Kinh và Hoa như là lễ hội cúng biễn ở Mỹ Long-Lễ nghĩnh ông, Vu lan thắng hội-Lễ báo hiếu, tết Trung Thu,. Văn hóa trong cuộc sống hàng ngày của người dân Trà Vinh luôn được đánh giá là lịch sự, trang trọng cả về văn hóa ăn mặc, trang trí và đi đứng, giao tiếp. Họ luôn tôn trọng giờ giác, tôn trọng sự tự do cá nhân và họ luôn tôn trọng lẫn nhau. Điều đặc biệt hơn người Trà Vinh luôn tự hào với những gì họ có, nhất là văn hóa hay những nghề thủ công mà tố tiên họ truyền lại.
Từ đó, họ luôn có ý thức lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa ấy. Mỗi cộng đồng dân tộc tại Trà Vinh đều mang đến những nét văn hóa truyền thống độc đáo riêng, là nơi sinh hoạt tỉnh thần không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của họ.6 Kinh tế Về nông nghiệp: Năng suất, sản lượng tăng, năm 2010 dự kiến đạt khoảng 1.500 tân, góp phần đưa giá trị sản xuất bình quân 5 năm tăng 3,63%, vượt chí tiêu Nghị quyết. Lâm nghiệp, thực hiện có hiệu quả dự án rừng ngập nước ven biển của Ngân hàng Thế giới và dự án trồng mới 05 triệu ha rừng của Chính phủ, đã bảo vệ được diện tích rừng hiện có và mỗi năm trồng mới 169 ha, đến nay toàn tỉnh có 7.5 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 40% diện tích. Thuý sản, tuy có nhiều khó khăn, nhưng nhờ thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, cùng nỗ lực của ngư dân, ước sản lượng thủy sản năm 2010 đạt trên 157.000 tan, tăng 2,44% so năm 2005.
Công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển: Tốc độ tăng GDP tuy chưa đạt chỉ tiêu Nghị quyết, nhưng đã có bước phát triển tích cực, tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 14,52% năm 2005 tăng lên 18,35% năm 2010. Trong 05 năm, thu hút 69 dự án đầu tư với tông vốn đăng ký 1. Năm 2010, giá trị sản xuất ước đạt 3.580 tỷ đồng, tăng 2 lần so với năm 2005. Toản tỉnh hiện có 8.520 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, giải quyết việc làm cho 43.000 lao động, tăng 21.500 lao động so năm 2005.
Công tác khuyến công, hỗ trợ phát triển các làng nghề tiếp tục được thực hiện. Thương mại - dịch vụ phát triển khá: Tốc độ tăng GDP bình quân 5 năm đạt 20,87%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết; tổng mức lưu chuyên hàng hóa bán lẻ tăng bình quân 143⁄/năm, hàng hóa lưu thông trên thị trường trong tinh ngày càng phong phú, đa dạng. Kim ngạch xuất khâu ước năm 2010 đạt 140 triệu USD, tăng hơn 3 lần so năm 2005, một số mặt hàng xuất khâu tăng khá: Gạo, tôm đông lạnh, cơm dừa nạo sấy, tơ xơ dừa, .Kim ngạch nhập khâu tăng bình quân 11%/năm, chủ yếu nhập nguyên liệu để sản xuất được phẩm và máy móc thiết bị ngành công nghiệp. Tỉnh đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch như: Khu du lịch biển Ba Động, khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn, khu văn hóa du lịch Ao Bà Om, mở rộng khu di tích Đền thờ Bác Hồ.đến nay toàn tỉnh đã có 35 doanh nghiệp kinh doanh du lịch, 42 cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn, có khả năng đón tiếp khách quốc tế và trong nước.
Lĩnh vực bưu chính viễn thông trong 05 năm qua có bước phát triển tích cực. Nhu cầu dịch vụ bưu chính, viễn thông phát triển nhanh, mạng lưới viễn thông được đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới 04 điểm phục vụ bưu chính,. Hoạt động tài chính, tín dụng: Quản lý và điều hành ngân sách đi vào nề nếp, thực hiện tốt chính sách bồi dưỡng nguồn thu, hàng năm thu ngân sách trên địa bàn (thu nội địa) đạt và vượt kế hoạch đề ra. Thực hiện tốt chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên, tăng chỉ đầu tư phát triển, chỉ sự nghiệp giáo dục — đào tạo, y tế, khoa học — công nghệ.
Khắc phục kịp thời những sai sót trong thu-chi ngân sách [16].2 TONG QUAN VE TRUONG DAI HOC TRA VINH Dia chi nam ở Số 126 Nguyễn Thiện Thành — Khóm 4, Phường 5, Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Với tổng diện tích gần 53 ha, Đại học Trà Vinh gồm các công trình: khối các phòng, khoa, viện, trung tâm, Trường Thực hành Sư phạm, Ký túc xá, Thư viện, Giảng đường, Khu thực hành — thí nghiệm, nhà học., đã được lãnh đạo trung ương cùng với lãnh đạo địa phương chủ trương phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng, một số đã hoàn thành và chính thức đưa vào sử dụng cùng với việc mua sắm trang thiết bị đồng bộ và một số công trình đang được xúc tiễn. Nhìn chung, cơ sở vật chất, trang thiết bị cơ bản đã đáp ứng tốt được yêu cầu cho công tác đào tạo của nhà trường. Khuôn viên trường được phân tán tại nhiều địa điểm với nhiều cơ sở phục vụ cho một hoặc một số chức năng đào tạo, nghiên cứu, kinh doanh hoặc chuyển giao công nghệ tọa lạc tại Trà Vinh.
Trường Đại học Trà Vinh tiền thân là trường Cao đẳng Cộng đồng Trà Vinh, được thành lập ngày 3 tháng 8 năm 2001, trên cơ sở triển khai Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam - Canada do Cơ quan Phát triển Quốc tế của Canada (CIDA), Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng của Canada (ACCC), một số Viện/trường của Canada như Viện Khoa học và Kỹ thuật Ứng dụng tỉnh Saskatchewan (SIAST), Viện Hàng hải (MI), Viện Kỹ thuật Néng nghiép tinh Québec (ITA) va trường Đại học - Cao đăng Malaspina (MUC) va Chính phủ Việt Nam đồng tài trợ về tài chính và kỹ thuật. Sau đó, trường sáp nhập thêm trường Dạy Nghẻ và Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Trà Vĩnh [17]. Trường đã đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục cấp cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn mới của Bộ GD&ĐT, và đạt chuẩn kiểm định chat lượng giáo dục quốc tế.