Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đăng kí học lặp lại của học viên tại Hệ thống Anh ngữ Quốc tế AMES EN GLISH – Chi nhánh Huế Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao tỉ lệ học viên đăng ký học lặp lại tại Hệ thống Anh ngữ Quốc tế AMES EN GLISH – Chi nhánh Huế. Phần III: Kết luận và kiến nghị PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ KHOA HỌC VỀ VẤ ĐỀ GHIÊ CỨU 1. Khách hàng Theo Philips Kotler (2001) thì: “Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp”. Có thể thấy khách hàng đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.
Khách hàng là người mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và là người quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều cần phải thỏa mãn được nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Dịch vụ và dịch vụ đào tạo 1. Khái niệm về dịch vụ Theo Philip Kotler (2003), dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phNm vật chất. Sinh viên thực hiện: guyễn Văn hân 9 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: ThS. guyễn Hoàng gọc Linh Theo Zeithaml và Britner (2000), dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Gronroos (1990) định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng”.
Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuNn hóa đưa ra (ISO 9004 – 1991E): “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”. N ói tóm lại, dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở những sản phNm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là sản phNm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác so với các loại hàng hóa thông thường như tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không thể lưu trữ, tính không đồng nhất và tính không chuyển quyền sở hữu được.
Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường. Tính vô hình: Khác với sản phNm vật chất, các dịch vụ không thể nhìn thấy, không nếm, ngửi, cảm giác hay nghe thấy được trước khi mua. Tính không đồng nhất: Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng và chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Do vậy, khó có thể có một tiêu chuNn chung nào để đánh giá chất lượng dịch vụ.
Tính không thể tách rời: Được thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn tách rời là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Đối với dịch vụ, sản xuất và tiêu Sinh viên thực hiện: guyễn Văn hân 10 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: ThS. guyễn Hoàng gọc Linh dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và sự tương tác giữa bên cung cấp và bên nhận dịch vụ có thể ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Tính không thể lưu trữ: Vì dịch vụ là sản phNm vô hình, nó có tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng nên sản phNm dịch vụ không thể cất giữ được hoặc không thể lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác.
Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hóa, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hóa mình đã mua. Khi mua một dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Dịch vụ đào tạo Theo Cuthbert (1996) trích từ Costa & Vasiliki (2007) thì đào tạo được coi là một ngành dịch vụ bởi vì đào tạo có đầy đủ đặc tính của một dịch vụ: có tính vô hình, tính không thể tồn kho, quá trình sử dụng dịch vụ của khách hàng diễn ra đồng thời với quá trình cung cấp dịch vụ của cơ sở đào tạo và dịch vụ này cũng không có tính đồng nhất. Dịch vụ đào tạo là những hoạt động giảng dạy, huấn luyện nhằm cung cấp cho các học viên kiến thức, kỹ năng cần thiết.
Để dịch vụ đào tạo đạt được hiệu quả thì không những các hoạt động giảng dạy, chương trình đào tạo, huấn luyện phải thật tốt mà thái độ phục vụ của nhân viên, cơ sở vật chất và các yếu tố liên quan đến hoạt động dịch vụ đào tạo cũng phải làm cho khách hàng cảm thấy hài lòng. Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng 1. Khái niệm hành vi người tiêu dùng Theo Philip Kotler (2001), người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phNm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đNy người tiêu dùng lựa chọn sản phNm, dịch vụ của họ.
Sinh viên thực hiện: guyễn Văn hân 11 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: ThS. guyễn Hoàng gọc Linh Schiffman và Kanuk (2007) có cách tiếp cận trong việc xác định hành vi của người tiêu dùng:" Hành vi người tiêu dùng hiển thị trong việc tìm kiếm , mua bán, sử dụng, đánh giá và xử lý các sản phNm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ đáp ứng nhu cầu của họ ". N hu cầu và hành vi của người tiêu dùng rất khác nhau giữa các xã hội, giữa các khu vực địa lý, giữa các nền văn hóa, tuổi tác, giới tính… Hành vi của người mua chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Trong đó, ý định mua lại là yếu tố then chốt trong nghiên cứu hành vi tiêu dùng (Engel và cộng sự, 1995).
Mô hình hành vi người tiêu dùng Các doanh nghiệp cần nghiên cứu hành vi của người mua để có các chiến lược Marketing phù hợp. Doanh nghiệp nào thực sự hiểu được khách hàng phản ứng như thế nào đối với những kích thích tiếp thị và những kích thích khác của môi trường, doanh nghiệp ấy sẽ có lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh. Sinh viên thực hiện: guyễn Văn hân 12 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: ThS. guyễn Hoàng gọc Linh Philip Kotler (2002) cho rằng sự phát triển về quy mô của các doanh nghiệp và thị trường đã tạo ra khoảng cách giữa những người quản trị marketing và các khách hàng của họ.
Họ ít có cơ hội hơn để giao tiếp trực tiếp với khách hàng. Các nhà điều hành đã phải cố gắng hướng đến việc tìm hiểu người tiêu dùng để biết được : - Ai mua ? (Khách hàng) Họ mua gì? (Sản phNm) - Tại sao họ mua ? (Mục tiêu) N hững ai tham gia vào việc mua ? (Tổ chức) - Họ mua như thế nào ? (Hoạt động) Khi nào họ mua ? (Cơ hội) - Họ mua ở đâu ? (N ơi bán). Vấn đề cốt yếu là hiểu được người tiêu dùng hưởng ứng như thế nào trước những tác nhân marketing khác nhau mà doanh nghiệp có thể sử dụng đến ? Doanh nghiệp nào hiểu được đích thực người tiêu dùng sẽ đáp ứng ra sao trước các đặc trưng của sản phNm, giá cả, thông điệp quảng cáo, là có được lợi thế hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh của mình. 1: Mô hình hành vi người tiêu dùng ( guồn: Philip Kotler,2001) Các nhân tố kích thích là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có thể gây ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng.
Chúng được chia làm hai nhóm chính. N hóm các kích thích bởi tác động marketing như sản phNm, giá cả, phân phối và chiêu thị. Các tác nhân này nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp. N hóm còn lại không nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, cạnh tranh, chính trị, văn hoá, xã hội….
Sinh viên thực hiện: guyễn Văn hân 13 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: ThS. guyễn Hoàng gọc Linh Các phản ứng đáp lại là những biểu hiện có thể nhận biết được trong ý thức của người mua thông qua lựa chọn lựa chọn sản phNm, lựa chọn nhãn hiệu, lựa chọn nơi mua (nguồn cung ứng), lựa chọn thời gian, tần suất và khối lượng mua. N hiệm vụ quan trọng nhất đối với các nhà quản trị Marketing là phải hiểu được cái gì xảy ra trong “hộp đen” ý thức của người tiêu dùng khi tiếp nhận được những tác nhân kích thích của thị trường. “Hộp đen” ý thức của người mua được chia thành hai phần: Phần thứ nhất: Là những đặc tính của người mua, có ảnh hưởng cơ bản đến việc người mua tiếp nhận các tác nhân kích thích và phản ứng đáp lại với những tác nhân đó như thế nào.
Phần thứ hai: là quá trình quyết định mua của người tiêu dùng. Kết quả của việc mua sắm hàng hoá sẽ phụ thuộc vào những quyết định này. Đây cũng là hai nội dung cơ bản của việc nghiên cứu hành vi mua của người tiêu dùng. Để đi đến quyết định mua thực sự người mua phải trải qua một quá trình gồm 5 bước được thể hiện qua sơ đồ dưới đây: N hận biết Tìm kiếm Đánh giá Quyết định Hành vi sau nhu cầu thông tin các phương mua khi mua án lựa chọn Sơ đồ 2.
1: Tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng ( guồn: Kotler & Armstrong, 2004) N hận thức nhu cầu: Tiến trình mua khởi đầu với việc người mua ý thức được nhu cầu. N gười mua cảm thấy có sự khác biệt giữa trạng thái thực tế và trạng thái mong muốn.