phần mở đầu và kết luận. Nghiên cứu gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về kiểm toán và khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Chƣơng 3: Kết quả khảo sát khoảng cách kỳ vọng và các nhân tố ảnh hƣởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Chƣơng 4: Một số gợi ý nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam 5 8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trên thế giới. Trong khuôn khổ bài viết này tác giả chỉ tổng hợp một số nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và các nghiên cứu về nhân tố ảnh hƣởng và thành phần của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở trong và ngoài nƣớc.
Nghiên cứu nước ngoài - Nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Nghiên cứu của Lee (1970) [30] là nghiên cứu đầu tiên về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đƣợc thực hiện tại Anh. Ông đã khảo sát các KTV (chủ phần hùn và nhân viên), đối tƣợng bị kiểm toán (giám đốc, thƣ ký và kế toán) và các đối tƣợng thụ hƣởng (các nhà đầu tƣ, ngân hàng và môi giới chứng khoán) nhằm xác định ý kiến của họ về 13 mục tiêu. Hơn 80% số ngƣời đƣợc hỏi xác định mục tiêu kiểm toán là phát hiện các gian lận và sai sót, đảm bảo công ty đã tuân thủ tất cả các yêu cầu pháp luật; xác minh tính chính xác của sổ sách, hồ sơ kế toán; và đƣa ra ý kiến trung thực hợp lý của BCTC. Trái với kỳ vọng của Lee, sự hiểu biết của KTV về các mục tiêu kiểm toán có chút khác biệt so với các đối tƣợng bị kiểm toán và thụ hƣởng.
Ông thừa nhận rằng, nếu những ngƣời tham gia không có cùng chung nhận thức về mục tiêu kiểm toán thì các lợi ích từ một cuộc kiểm toán sẽ không đƣợc đánh giá cao và đáng tin cậy do thông tin tài chính đƣợc kiểm toán đã bị đặt sai chỗ. Nghiên cứu của Low (1988) [33] xem xét phạm vi khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và các nhà phân tích tài chính về các mục tiêu kiểm toán tại Singapore. Những ngƣời tham gia đƣợc cung cấp danh sách 13 mục tiêu của cuộc kiểm toán. Kết quả cho thấy cả hai nhóm đều nhận thức đƣợc về mục tiêu truyền thống của kiểm toán (đƣa ra ý kiến về báo cáo tài chính).
Tuy nhiên, bên cạnh mục tiêu này, các phản hồi còn có hàng loạt 6 những niềm tin mà họ xem là mục tiêu kiểm toán. Các nhà phân tích tài chính nhận thức một cuộc kiểm toán phải đảm bảo tính chính xác của các báo cáo tài chính. Thêm vào đó, nhận thức của họ về trách nhiệm của KTV liên quan đến việc phát hiện và ngăn chặn gian lận có nhiều đòi hỏi khắt khe hơn so với những gì mà KTV tin rằng họ nên thực hiện. Nghiên cứu của Humphrey, C.
và Turley, S (1993) [27], Humphrey và cộng sự đã chỉ ra rằng sự hiểu lầm ở Anh về các chức năng kiểm toán là chút khác nhau so với nghiên cứu của Lee năm 1970. Năm 1990, Humphrey đã khảo sát một mẫu bao gồm KTV, ngƣời bị kiểm toán và những ngƣời sử dụng BCTC ở Anh để xác định ý kiến của họ về KTV và công việc của họ, đánh giá theo thang đo Likert 7 điểm. Tổng cộng có 2445 Bảng câu hỏi và có 935 phản hồi phục vụ cho phân tích. Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy có sự khác biệt đáng kể về ý kiến cho rằng vai trò của KTV phải là đảm bảo rằng: là tất cả các gian lận đáng kể phải đƣợc phát hiện; công ty đƣợc điều hành một cách hiệu quả; các cơ quan có thẩm quyền phải đƣợc thông báo về bất kỳ sai sót đáng kể nào; và Bảng cân đối kế toán cung cấp một đánh giá hợp lý về công ty.
Nhóm nghiên cứu nhận xét "Trong tất cả các trƣờng hợp, KTV nhận thấy vai trò của mình bị hạn chế hơn so với những gì mà các giám đốc tài chính hoặc các nhóm ngƣời sử dụng nhận thấy”. - Nghiên cứu về nhân tố ảnh hƣởng và thành phần của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Ngiên cứu của Porter (1993) [39], Porter đã nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại New Zealand bằng cách chia khoảng cách này thành hai phần: khoảng cách hoạt động và khoảng cách hợp lý. Tác giả tiến hành nghiên cứu từ việc sử dụng một cuộc khảo sát qua mail đƣợc gửi đến hai nhóm đối tƣợng bị ảnh hƣởng bởi hoạt động kiểm toán độc lập là (1) nhóm cộng đồng tài chính, bao gồm các KTV, nhân viên công ty, các nhà phân tích 7 tài chính, sinh viên kiểm toán và (2) các nhóm công chúng bao gồm luật sƣ, phóng viên tài chính và các thành viên của công chúng nói chung.
Từ các kết quả nghiên cứu của mình, Porter đã xác định rằng có hơn 20% công chúng nhận thức kiểm toán viên phải thực hiện 10 nhiệm vụ trong khi nhóm cộng đồng tài chính cho rằng điều đó là không hiệu quả và kinh tế khi thực hiện. Nghiên cứu thực nghiệm này đã giúp các nhà nghiên cứu xác định các thành phần khác nhau của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán bao gồm khoảng cách hợp lý (41%), khoảng cách chuẩn mực (53%) và khoảng cách năng lực (6%). Nghiên cứu của Teck Heang Lee và cộng sự (2002) [46] tổng hợp hệ thống kết quả nghiên cứu trƣớc đây, và chỉ ra giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán thông qua hoạt động giáo dục nâng cao nhận thức của ngƣời sử dụng, thiết kế thủ tục kiểm toán, tăng cƣờng trách nhiệm của KTV và báo cáo kiểm toán mở rộng. Mahdi Salehi (2011) trong nghiên cứu [43] tiếp tục nghiên cứu liên quan đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, lần này tác giả đề cập đến bản chất và kích thƣớc khác nhau của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trên toàn thế giới.
Nghiên cứu đi đến kết luận rằng khoảng cách này nên đƣợc thu hẹp bởi chính KTV, cải thiện trách nhiệm kiểm toán trong các chuẩn mực và giáo dục cho ngƣời sử dụng khác nhau hiểu về mục tiêu và bảng chất của cuộc kiểm toán. Nghiên cứu của Asare và Wright (2012) [8], tác giả tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá sự hiểu biết của KTV và 2 nhóm ngƣời ngƣời sử dụng (nhân viên tín dụng ngân hàng và nhà đầu tƣ) về các thông điệp đƣợc truyền tải trên BCKT chuẩn theo SAS 58, đồng thời đánh giá về mức độ đồng thuận của họ trong việc giải thích các thuật ngữ đƣợc sử dụng trong báo cáo. 154 đối tƣợng tham gia khảo sát (bao gồm 78 KTV, 43 nhà đầu tƣ và 33 nhân viên ngân hàng) đƣợc yêu cầu trả lời các câu hỏi sau: - Mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc ra quyết định (đầu 8 tƣ/cho vay)? - Mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc đánh giá BCTC không có gian lận trọng yếu? - Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đua ra về khả năng hoạt động liên tục của công ty? - Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo công ty đƣợc quản lý tốt? - Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo về khả năng đầu tƣ vào công ty là tốt? - Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo về việc công ty sẽ đạt đƣợc các mục tièu chiến lƣợc? - Khả năng KTV có thể phát hiện ra các gian lận trọng yếu trên BCTC? Và tiếp theo là thu thập ý kiến của các nhóm ngƣời tham gia về hiểu biết của họ về các thuật ngữ đƣợc sử dụng trên BCKT bao gồm “Sai sót trọng yếu”, đảm bảo hợp lý”, “thử nghiệm cơ bản”, “ƣớc tính quan trọng” và “trình bày hợp lý”. Kết quả cho thấy so với KTV, ngƣời sử dụng xét xét BCKT là quan trọng hơn trong việc đánh giá rủi ro gian lận ngay cả khi họ đánh giá một khả năng thấp hơn mà KTV phát hiện gian lận.
Hơn nữa BCKT giúp ngƣời sử dụng có đƣợc một sự tin tƣởng cao hơn trong quản lý của công ty, tính hợp lý của các khoản đầu tƣ và hoàn thành cách mục tiêu chiến lƣợc hơn KTV. Ngoài ra, trong một số trƣờng hợp, KTV, nhân viên tín dụng và nhà đầu tƣ có cách hiểu khác nhau về các thuật ngữ đƣơc sử dụng cho BCKT cho thấy sự bất đồng giữa ngƣời sử dụng về việc giải thích các thuật ngữ chuyên môn này. Nghiên cứu Muylder và cộng sự (2012) [37] đã kiểm tra hiệu quả của BCKT mở rộng theo ISA 700 và một khóa học kiểm toán trong việc thu hẹp khoảng cách mong đợi đối với các sinh viên thuộc trƣờng ĐH Tự do Brussel 9 (Bỉ). Tất cả các sinh viên đều đã hoàn thành một khóa học về kế toán nhƣng chỉ một trong số nhóm này đƣợc đào tạo về kiểm toán.
Các sinh viên đƣợc chia làm 3 nhóm: - Nhóm thứ nhất gồm 42 sinh viên đã hoàn thành khóa học về kế toán nhận đƣợc một BCKT theo ISA700 - Nhóm thứ 2 gồm 43 sinh viên đã hoàn thành khóa học về kế toán nhận đƣợc một BCKT mở rộng theo chuẩn ISA 700, trong báo cáo này gồm 3 thuật ngữ đƣợc giải thích tƣờng tận hơn so với BCKT theo ISA 700 gồm đảm bảo hợp lý, gian lận và hoạt động liên tục. - Nhóm thứ 3 gồm 74 sinh viên đã hoàn thành khóa học về cả kế toán và kiểm toán, họ không đƣợc đọc bất kỳ BCKT nào trong 2 loại nói trên. Các đối tƣợng tham gia đƣợc yêu cầu trả lời các câu hỏi liên quan đến trách nhiệm của họ về trách nhiệm chung của KTV, mức độ đảm bảo mà KTV cung cấp, trách nhiệm của KTV đối với gian lận và vấn đề hoạt động liên tục và vấn đề lấy mẫu kiểm toán. Kết quả khảo sát cho thấy rằng những ngƣời tham gia đào tạo về kiểm toán có đƣợc hiểu biết đúng đắn nhất (theo quy định của ISA) về chứng năng và trách nhiệm của KTV, giáo dục kiểm toán dẫn đến một sự hiểu biết quan trọng hơn về trách nhiệm của KTV liên quan đến công tác phòng chống và phát hiện gian lận, đánh giá khả năng hoạt động liên tục.
Những ngƣời tham gia đào tạo về kiểm toán cũng hiểu rõ hơn về ý nghĩa của sự đảm bảo hợp lý và kết quả các thủ tục lấy mẫu kiểm toán.