CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CHỨNG KHOÁN 1. Những vấn đề cơ bản về Thị trường chứng khoán 1. Thị trường chứng khoán - TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. - TTCK được định nghĩa theo Longman Dictionary of Business English, năm 1985: ”An organized market where are bought sold under fixed rules” – Dịch nghĩa tiếng Việt: Một thị trường có tổ chức là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo những quy tắc đã được ấn định.
- TTCK tiếng La tinh là Bursa - một thị trường có tổ chức và hoạt động có điều khiển. Ngoài ra còn một số khái niệm khác về TTCK. Tuy có nhiều khái niệm về TTCK nhưng nhìn chung có thể đưa ra một khái niệm có tính phổ biến: “TTCK là một thị trường mà ở nơi đó mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời”. Tại khoản 18 điều 6 của Luật chứng khoán Việt Nam do quốc hội Việt Nam ban hành ngày 29/06/2006, số hiệu 70/2006/QH11 giải thích thuật ngữ TTCK: “Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán”.
Phân loại TTCK: Có nhiều tiêu thức phân loại TTCK. - Căn cứ vào phương thức hoạt động: + TTCK tập trung - Sở giao dịch chứng khoán (Stock exchange) là một pháp nhân có thể là tổ chức sở hữu nhà nước, công ty cổ phần hoặc một hiệp hội được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện giao dịch chứng khoán cho các tổ chức phát hành đủ điều kiện niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán. Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán phải tiến hành tại Sở giao dịch và thông qua các thành viên của Sở giao dịch theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán. 5 + TTCK phi tập trung (Over-the-counter – OTC) là một thị trường không có hình thái tổ chức tồn tại, nó có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để tiến hành giao dịch.
Việc giao dịch được thực hiện bởi một mạng lưới các nhà môi giới, tự doanh chứng khoán và nhà tạo lập thị trường liên kết với nhau và liên kết với trung tâm quản lý thông qua mạng dịch vụ viễn thông dữ liệu diện rộng; cơ chế xác lập giá chủ yếu là dựa trên cơ sở thương lượng giá. - Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn: + Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. Hoạt động của thị trường sơ cấp tạo ra một kênh huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Ở thị trường sơ cấp, người phát hành nhận được tiền từ việc bán chứng khoán. Qua hoạt động này ở thị trường sơ cấp, các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế, xã hội được chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán. + Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Đây là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát hành.
Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch giá. - Căn cứ vào hàng hoá giao dịch trên thị trường: + Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi. + Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ. + Thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường giao dịch các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai.
Hàng hóa trên thị trường chứng khoán Hàng hóa giao dịch trên TTCK bao gồm: - Cổ phiếu (Stock): là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty cổ phần. Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty phát hành. Căn cứ theo quyền lợi của người nắm giữ cổ phiếu thì cổ phiếu được chia thành các loại như sau: + Cổ phiếu thường (Common Stock): là giấy chứng nhận sở hữu cổ phần thường, xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường trở thành cổ đông thường.
Các cổ đông sở hữu loại cổ phiếu này được quyền tự do chuyển nhượng, có đầy đủ quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại Đại hội cổ đông và được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu nắm giữ. + Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock): là giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn. Cổ phiếu ưu đãi vừa có những đặc điểm giống cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu. Cũng giống như cổ phiếu thường, người mua cổ phiếu ưu đãi được xem là cổ đông trong công ty.
Tuy nhiên, khác với cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi trả một lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ. Giống như trái phiếu, mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi khác với mệnh giá cổ phiếu thường chỉ có giá trị danh nghĩa, mệnh giá cổ phiếu ưu đãi rất quan trọng, có ý nghĩa trong việc chia cổ tức cố định và cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo một tỷ lệ cố định trên mệnh giá. - Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ do công ty quản lý quỹ thay mặt Quỹ công chúng phát hành, xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người đầu tư đối với một hoặc một số đơn vị quỹ của một Quỹ công chúng. - Trái phiếu (Bonds): là giấy chứng nhận nợ dài hạn do chính phủ hay công ty phát hành cam kết với người mua trái phiếu rằng sẽ chi trả lợi tức định kỳ và hoàn trả lại vốn gốc cho người cầm giữ trái phiếu đến thời điểm đáo hạn.
Trên giấy 7 chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá, lãi suất được hưởng và thời hạn đáo hạn của trái phiếu. + Trái phiếu chính phủ (Government Bonds): là trái phiếu do chính quyền trung ương phát hành nhằm mục đích bù đắp các khoản chi đầu tư của ngân sách Nhà nước, quản lý lạm phát hoặc tài trợ cho các công trình, dự án nhà nước. Trái phiếu chính phủ có thể được phát hành bằng đồng tiền nước đó hoặc ngoại tệ. + Trái phiếu đô thị (Municipal Bonds): là loại trái phiếu đầu tư có kỳ hạn từ một năm trở lên, do chính quyền địa phương ủy quyền cho kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địa phương lập ra, phát hành với mục đích huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trình mang tính công cộng như đường xá, bến cảng, trường học, bệnh viện,…Trái phiếu đô thị có thể được phát hành bằng đồng tiền nước đó hoặc ngoại tệ.
+ Trái phiếu công ty (Corporate Bonds): là trái phiếu được công ty ở một quốc gia hoặc một tập đoàn thuộc công ty đa quốc gia phát hành nhằm mục đích huy động nợ vay để đầu tư dài hạn, mở rộng qui mô phát triển sản xuất kinh doanh. Trái phiếu công ty có thể được phát hành bằng đồng tiền nước thuộc đơn vị thường trú của công ty đó hoặc ngoại tệ. - Các chứng khoán phái sinh: + Quyền mua cổ phần (Rights) là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định. + Chứng quyền (Warrants) là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.
+ Hợp đồng kỳ hạn (Forwards): là một thoả thuận giữa hai bên về việc mua hay bán một chứng khoán nào đó vào một thời điểm định trước trong tương lai. Do vậy, trong loại hợp đồng này, ngày kí kết và ngày giao hàng là hoàn toàn tách biệt nhau. Hai bên chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng. Đặc điểm của hợp đồng kỳ hạn là hai 8 bên tham gia đàm phán trực tiếp về các điều khoản trong hợp đồng, và được mua bán trên thị trường phi tập trung.
+ Hợp đồng giao sau (Futures) là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai. Hợp đồng giao sau được thỏa thuận thông qua môi giới và được mua bán trên thị trường tập trung. + Hợp đồng quyền chọn (Options) là hợp đồng cho phép người mua có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán một số lượng xác định các chứng khoán, tại hay trước một thời điểm xác định trong tương lai, với một mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng. Giá chứng khoán 1.
Các loại giá chứng khoán - Mệnh giá (Par Value) là giá trị ghi trên cổ phiếu. Mệnh giá chỉ có giá trị danh nghĩa, khi công ty mới thành lập mệnh giá được xác định theo công thức (1.1) Vốn điều lệ của công ty cổ phần Mệnh giá = (1.1) Tổng số cổ phần đăng ký phát hành - Giá trị ghi sổ (Book Value) là giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định. Giá trị ghi sổ được xác định theo công thức (1.2) Giá trị Tổng tài sản - (Tài sản vô hình + Tổng nợ phải trả) = (1.2) ghi sổ Tổng số cổ phần đang lưu hành Tài sản vô hình bao gồm: Giá trị các sáng chế, giấy phép khai thác, nhãn hiệu, .