CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP 1. GIỚI THIỆU VỀ KHÁI NIỆM “CÔNG BỐ THÔNG TIN” Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay CBTT dành cho các công ty niêm yết, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời. Trong định nghĩa này, chúng ta thừa nhận minh bạch thông tin “là sự CBTT kịp thời và đáng tin cậy, cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một đơn vị, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này”3. Cụ thể hơn, CBTT kế toán là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong một thời kỳ nhất định4.
CBTT bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc và các công bố tự nguyện hay không bắt buộc. Công bố bắt buộc (madatory disclosures) là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Doanh Nghiệp, Ủy ban chứng khoán, Các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP và các Chuẩn mực kế toán. Trong khi đó, công bố tự nguyện (voluntary disclosures) là sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc.
Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu. (2008) [6], 3 Theo International Finance Corporation, Public disclosure and transparency, Yerevan, May 2006 4 Đặng Thị Thúy Hằng, Thực trạng và giải pháp của vấn đề CBTT của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam, www.vn Luan van 9 công bố tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức… Hiện nay, CBTT bắt buộc tuy đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp quy tuy nhiên mức độ tuân thủ vẫn khác nhau giữa các doanh nghiệp. Có nghĩa mặc dù tính quan trọng của các thông tin được quy định bắt buộc, ý thức về công bố ở các đơn vị vẫn chưa cao. Nghiên cứu CBTT chủ yếu có tính bắt buộc là chủ điểm nghiên cứu này hướng tới.
CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adina, Ion – 2008 [6]). Chính vì thế mà tại mọi nền kinh tế, tác động của hành vi CBTT, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán là vô cùng to lớn. Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm vi mô trong tình hình tài chính của từng đơn vị, từng nhà đầu tư mà lan rộng trong cả nền kinh tế. Đó là lý do vì sao mà các nghiên cứu về CBTT, tác động và các yếu tố ảnh hưởng không ngừng được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới.
việc nghiên cứu ảnh hưởng của việc CBTT kế toán đến việc ra quyết định đã và đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh nghiệp không chỉ ở các nước đã phát triển mà còn ở các nước đang phát triển. Các đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán có thể tiếp cận thông tin về doanh nghiệp qua nhiều kênh như website của các doanh nghiệp, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng,…. Nguồn thông tin mà nhà đầu tư, các cơ quan quản lý,… có thể sử dụng bao gồm một hệ thống đa dạng các báo cáo thường niên, báo cáo CBTT bất thường khi niêm yết, khi tái chào bán chứng khoán hoặc có các sự Luan van 10 kiện bất thường xảy ra trong quá trình hoạt động của đơn vị,… (được trình bày ở phụ lục 2 – Bảng tổng hợp các phương tiện CBTT). YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1.
Yêu cầu về CBTT trong chuẩn mực kế toán Trong IASB Framework – Khuôn mẫu lý thuyết, yêu cầu đối với thông tin được công bố thể hiện cụ thể tổng hợp trong bốn tính chất quan trọng của thông tin kế toán: - Tính có thể hiểu được (understandability) Người lập BCTC giả định rằng người sử dụng có một kiến thức nhất định về kinh doanh, các hoạt động kinh tế và kế toán. Tuy nhiên không có nghĩa là các thông tin phức tạp nhưng thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng lại có thể không trình bày trên BCTC với lý do là chúng được cho là quá khó hiểu đối với người sử dụng. - Tính thích hợp (Relevance) Thông tin được cho là thích hợp khi nó ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng, giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai hay xác định hay điều chỉnh các đánh giá trong quá khứ của họ. Thông tin thích hợp chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu của nó: Về bản chất, trong một vài trường hợp chỉ riêng bản chất cũng đủ để xác định tính thích hợp của chúng.
Ví dụ, báo cáo của một chi nhánh mới có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro và cơ hội mà đơn vị đang đối mặt không cần xét đến tính trọng yếu của kết quả đạt được của chi nhánh mới trong kì báo cáo. Trong các trường hợp khác, cả bản chất và mức trọng yếu của thông tin đều quan trọng. Ví dụ, giá trị của mỗi loại hàng hóa tồn kho chủ yếu đều quan trọng đối với doanh nghiệp. Về tính trọng yếu, thông tin được xem là trọng yếu nếu thiếu hay sai lệch thông tin có thể ảnh hưởng đến người sử dụng khi họ dựa trên BCTC để ra Luan van 11 quyết định kinh tế.
Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn của khoản mục, hay sai sót được đánh giá trong từng trường hợp cụ thể. - Tính đáng tin cậy (Reliability) Để hữu ích, thông tin phải đáng tin cậy. Thông tin đạt chất lượng đáng tin cậy khi chúng không có các sai sót hay thiên lệch trọng yếu và được trình bày trung thực. Để đạt chất lượng đáng tin cậy, thông tin cần: + Trình bày trung thực (Faithful representation) các nghiệp vụ hay sự kiện theo đúng nội dung xảy ra hay dự đoán hợp lý.
Cần lưu ý, phần lớn các thông tin tài chính có thể trình bày thiếu trung thực không phải vì thiên lệch mà do khó khăn trong việc xác định nghiệp vụ hay sự kiện cũng như đo lường giá trị của nghiệp vụ. + Tôn trọng nội dung hơn hình thức (Substance over form) Các nghiệp vụ hay sự kiện phải được tính toán và trình bày theo nội dung và tính chất kinh tế chứ không phải đơn thuần theo hình thức pháp lý. Nội dung và hình thức pháp lý không phải lúc nào cũng nhất quán. + Khách quan (Neutrality): Thông tin trình bày trên BCTC phải khách quan, không bị xuyên tạc.
Thông tin không được trình bày nhằm đạt được kết quả đã được xác định trước. + Thận trọng (Prudence): Người lập BCTC phải đối mặt với các trường hợp không chắc chắn. Thận trọng là việc cân nhắc trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng không cho phép khai thiếu tài sản và thu nhập hay không khống NPT và chi phí.
+ Đầy đủ (Completeness): thông tin trình bày trên BCTC phải đầy đủ trong giới hạn của tính trọng yếu và chi phí. Việc thiếu thông tin có thể dẫn đến thông tin sai lệch hay chệch hướng và thông tin có thể trở nên không đáng tin cậy hay không thích hợp. Luan van 12 - Tính có thể so sánh được (Comparability) Người sử dụng BCTC phải có thể so sánh các BCTC của một đơn vị trong một khoản thời gian nhằm xác định xu hướng về tình hình tài chính và kết quả hoạt động các đơn vị khác nhau với nhau nhằm đánh giá tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự thay đổi tình hình tài chính của các bên. Vì vậy, việc đo lường và diễn giải tác động tài chính của các nghiệp vụ và sự kiện phải được thực hiện một cách nhất quán trong toàn đơn vị, qua các thời kì khác nhau cũng như giữa các doanh nghiệp khác nhau.
Tuân thủ theo các IFRS, việc công bố các chính sách kế toán sử dụng bởi các đơn vị cũng sẽ giúp nâng cao khả năng có thể so sánh được của thông tin. Ngoài ra, theo Chuẩn mực kế toán VAS 01 – Chuẩn mực chung, các yêu cầu về thông tin kế toán được trình bày tóm lược nhưng vẫn thể hiện tính tương đồng cao với Chuẩn mực kế toán quốc tế: - Tính trung thực và khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo. - Tính đầy đủ: mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
- Tính kịp thời: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ. - Tính dễ hiểu: các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh.
Luan van 13 - Tính có thể so sánh: các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán.