Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức công ty cổ phần niêm yết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và giải pháp 3 c CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT 2.1 Tổng quan về cổ tức và chính sách cổ tức 2.1 Khái niệm Cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế (LNST) của công ty cổ phần được dùng để chi trả cho các cổ đông hay cũng chính là chủ sở hữu của công ty bằng nhiều hình thức khác nhau như: tiền mặt, cổ phần hoặc tài sản khác… Cổ tức gồm có cổ tức dành cho cổ phần ưu đãi và cổ tức dành cho cổ phần thường. Cổ tức dành cho cổ phần ưu đãi là một mức hay một tỷ lệ cố định theo các điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại cổ phần ưu đãi. Cổ tức trả cho cổ phần thường được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã trích lợi nhuận giữ lại (LNGL) để tái đầu tư, phát triển công việc kinh doanh. Chính sách cổ tức là một trong 3 chính sách tài chính quan trọng của công ty.
Kết hợp cả 2 quyết định đầu tư và tài trợ chính là quyết định về chính sách chi trả cổ tức. Chính sách cổ tức là chính sách ấn định mức LNST của công ty sẽ được đem chia như thế nào, bao nhiêu được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông.2 Các chỉ tiêu đo lường chính sách cổ tức Cổ tức mỗi cổ phần thường Cổ tức mỗi cổ phần thường là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi cổ phần được hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh. 4 c Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức là một tỷ số phản ánh bao nhiêu phần LNST được dùng để chi trả cổ tức. Tỷ lệ LN trả cổ tức càng cao cũng đồng nghĩa với LN công ty giữ lại càng thấp, công ty sẽ không thể mở rộng quy mô cho giai đoạn kế tiếp để phát triển bền vững trong dài hạn.
Tỷ suất cổ tức Tỷ suất cổ tức là tỷ số đo lường khoản thu nhập nhận được so với giá cổ phiếu. Tỷ suất cổ tức càng cao tức là thu nhập cho nhà đầu tư càng lớn.3 Quá trình trả cổ tức Các công ty cổ phần thường trả cổ tức 2 lần/năm. Cổ tức thường được đề xuất bởi Hội đồng quản trị và sau đó được thông qua bởi Đại hội đồng cổ đông. Có vài cột mốc thời gian chính sau: Ngày công bố cổ tức: là ngày công ty công bố mức chi trả cổ tức.
Đây là ngày quan trọng bởi vì thông qua việc công bố cổ tức, nhà đầu tư sẽ đánh giá được mức cổ tức là tăng hay giảm, hay vẫn được duy trì; qua đó, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được những tín hiệu thông tin mà các công ty phát ra. Vì vậy, nếu công ty thay đổi 5 c cổ tức đột ngột thì đây là ngày mà phản ứng trên thị trường thường sẽ xuất hiện rất rõ. Ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền: là ngày cuối cùng được hưởng cổ tức, tức là ngày mà nhà đầu tư nên mua cổ phiếu để được hưởng cổ tức. Do đó, nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu sau ngày này thì sẽ không được hưởng cổ tức.
Ngày chốt giao dịch không hưởng quyền: là ngày mà nếu các nhà đầu tư mua cổ phiếu sẽ không được hưởng cổ tức. Do đó, giá tham chiếu của cổ phiếu ngày này thường được điều chỉnh xuống tương ứng với số cổ tức để đảm bảo bình đẳng giữa các cổ đông, tức là cổ đông được lợi về cổ tức thì bị thiệt về giá và ngược lại. Giá tham chiếu ngày giao dịch không hưởng quyền bằng giá đóng cửa ngày giao dịch hưởng quyền cuối cùng trừ cổ tức. Ngày chốt danh sách cổ đông hay ngày đăng ký cuối cùng: là ngày Trung tâm lưu ký đóng sổ, chốt danh sách những cổ đông được hưởng cổ tức.
Ở Việt Nam, do qui chế giao dịch là T+3 nên ngày chốt danh sách cổ đông thường sau 3 ngày so với ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền hay sau 2 ngày so với ngày giao dịch không hưởng quyền. Ngày thanh toán cổ tức: là ngày mà các cổ đông sẽ nhận được cổ tức (thường là 2-3 tuần sau ngày chốt danh sách cổ đông).4 Phương thức chi trả cổ tức Phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt Cổ tức bằng tiền mặt là dạng cổ tức mà công ty lấy ra từ lợi nhuận ròng có được chi cho cổ đông dưới dạng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Việc chi trả bằng hình thức này mang lại nhiều lợi ích như: cổ tức tiền mặt có tính thanh khoản rất cao, vì một số nhà đầu tư cổ phiếu sợ rủi ro nên các cổ đông 6 c này thường muốn nhận một lượng tiền mặt ở hiện tại hơn là kì vọng vào một lượng tiền khác không chắc chắn ở tương lai. Có thể phát tín hiệu tốt cho thị trường vì đa phần các công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt thì chứng tỏ khả năng thanh toán của công ty là rất tốt, đặc biệt là thể hiện tình hình hoạt động tốt của công ty.
Tuy nhiên việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt sẽ làm cho nguồn vốn của công ty giảm xuống, dòng tiền đi ra ngoài càng nhiều sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, có khả năng công ty phải gia tăng thêm nợ. Phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu Đây là hình thức kết hợp của việc phân chia lợi nhuận với việc huy động vốn của công ty. Cụ thể, cổ đông sẽ nhận được nhiều cổ phiếu hơn nhưng giá thị trường của cổ phiếu sẽ bị điều chỉnh giảm để đảm bảo nguyên tắc công bằng. Việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ giúp công ty hạn chế được lượng tiền mặt ra khỏi công ty, đẩy mạnh việc tái đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo cơ hội làm tăng trưởng lợi nhuận của công ty từ đó làm tăng tỷ lệ tăng trưởng cổ tức và làm giá cổ phiếu tăng lên.
Tuy nhiên, việc chi trả cổ tức bằng hình thức này có thể làm số lượng cổ phiếu đang lưu hành tăng lên, có thể sẽ làm giảm giá cổ phiếu do ảnh hưởng của các chỉ số tài chính. Phương thức chi trả này khó có thể duy trì một cách liên tục. Phương thức chi trả cổ tức bằng tài sản khác Ngoài hai phương thức chi trả trên thì DN cũng có thể chi trả cổ tức bằng các hình thức khác như: trái phiếu, chứng khoán, thậm chí là tài sản của DN. Thông thường các DN thực hiện phương thức chi trả này khi DN thật sự gặp khó khăn về tiền mặt trong thời gian ngắn.2 Lý thuyết và định đề liên quan đến chính sách cổ tức 2.1 Cách tiếp cận của Moligliani và Miller (1961) về tính không liên quan của cổ tức Trong khi Lentner (1956) đưa ra những mô tả văn vẻ về chính sách cổ tức thì làn ranh trong những mô hình lý thuyết về cổ tức hầu hết được đảm bảo bởi những nghiên cứu cơ bản của Moligliani và Miller (M-M), những người đầu tiên đề xuất về chính sách cổ tức không liên quan tới giá trị doanh nghiệp.
Với kế hoạch đầu tư của một công ty cho trước, chính sách cổ tức của một công ty không phù hợp với giá trị của nó, vì một tỷ lệ cổ tức cao cần phải có doanh số bán cổ phiếu cao hơn để tăng khả năng tài chính của dự án đầu tư. Giả định cốt yếu ở đây là giá trị thị trường tương lai không bị chi phối bởi chính sách cổ tức hiện tại. Tiền đề cơ bản cho lập luận của họ là giá trị doanh nghiệp được xác định bởi việc lựa chọn đầu tư tối ưu. Việc chi trả cổ tức đơn giản chính là phần còn lại giữa khoản thu nhập và các khoản đầu tư.
Theo góc độ phía nhà đầu tư chính sách cổ tức càng không có liên quan bởi vì bất kì dòng tiền mong muốn của các khoản thanh toán đều được lặp đi lặp lại bằng việc mua bán vốn CSH. Vì vậy, các nhà đầu tư sẽ không trả thêm tiền cho bất kì chính sách cổ tức cụ thể. M-M đã kết luận rằng với chính sách tối ưu hóa đầu tư, việc công ty lựa chọn chính sách cổ tức nào cũng sẽ không tác động đến lợi ích của công ty. Điều quan trọng trông nhận định của M-M là vẫn có những tình huống mà trong đó chính sách cổ tức có thể ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp bởi vì một trong những giả định cơ bản bị thay đổi.2 Lý thuyết hàm chức thông tin (phát tín hiệu) của cổ tức Căn cứ vào lý thuyết phát tín hiệu, NĐT có thể rút ra được thông tin về triển vọng của DN thông qua quyết định chi trả cổ tức.
8 c Trong một thị trường thông tin đối xứng, tất cả các bên tham gia bao gồm cả nhà quản lý, ngân hàng, cổ đông và những người khác đều có cùng thông tin về một công ty. Tuy nhiên, hầu hết các học giả, chuyên viên tài chính cho rằng cấp quản lý thường sẽ có thông tin nhiều hơn những NĐT bên ngoài và khi đó thông tin bất đối xứng tồn tại. Một sự gia tăng trong cổ tức sẽ cho thấy khả năng sinh lời tốt của DN dẫn đến giá trị cổ phiếu sẽ biến động tích cực và ngược lại. Theo đó, không hề ngạc nhiên khi mà các nhà quản lý miễn cưỡng khi cắt giảm cổ tức.
Lintner (1956) nhận định rằng DN sẽ có khuynh hướng gia tăng cổ tức khi tin tưởng rằng thu nhập sẽ gia tăng trong vĩnh viễn đồng nghĩa với gia tăng cổ tức sẽ phản ánh dòng thu nhập bền vững trong dài hạn. Lý thuyết này cũng thống nhất với lý thuyết về “bằng phẳng cổ tức”, nhà quản lý sẽ cố gắng giữ cho cổ tức ít biến động và sẽ không gia tăng cổ tức trong dài hạn trừ khi họ có thể duy trì được sự gia tăng đó. Lipson, Maquieira và Megginson (1998) “ cấp quản lý sẽ không chia cổ tức cho đến khi họ tin tưởng rằng cổ tức đó sẽ duy trì ổn định bằng thu nhập trong tương lai. Mặc dù hiệu ứng phát tín hiệu cuat cổ tức đã được nhận thấy từ lâu nhưng vẫn chưa được mô hình hóa cho đến cuối những năm 70 – đầu 80 mới được các học giả mô hình hóa.