CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cấu trúc tài chính Để có thể hoạt động thì doanh nghiệp cần một lượng tài sản nhất định. Và để có nguồn tài trợ cho tài sản của mình, doanh nghiệp có thể sử dụng từ nhiều nguồn như vốn chủ sở hữu đóng góp, vốn vay từ các khoản vay của các tổ chức tín dụng hay từ các khoản nợ phải trả cho các nhà cung cấp… Nguồn vốn trong doanh nghiệp được phân thành hai loại là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
Cấu trúc tài chính trong nghĩa chung nhất là đề cập đến các bộ phận cấu thành và mối liên hệ của chúng trong một tổng thể, quá trình vận động và sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành quy định bản chất của tổng thể đó. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm cấu trúc tài chính. Theo tác giả Trương Bá Thanh, Trần Đình Khôi Nguyên và các cộng sự, quan niệm về cấu trúc tài chính theo nghĩa rộng, đó là: Cấu trúc tài chính phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp [7, tr. Theo Bertoneche và Teulie (1976): “Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là quan hệ giữa tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của doanh nghiệp, còn cấu trúc vốn được hiểu là quan hệ giữa nợ trung dài hạn và vốn chủ sở hữu” [12, tr.
Albouy: “Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được hiểu là quan hệ giữa toàn bộ nợ kể cả các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối”.C Myers: “Cấu trúc tài chính là một khái niệm được dùng để 10 phản ánh mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình”. Từ các khái niệm trên, cấu trúc tài chính doanh nghiệp được hiểu một cách chung nhất là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được tính toán từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Ta có thể tóm tắt như sau: Nợ ngắn hạn Nợ trung và dài hạn Cấu trúc Vốn chủ sở hữu Cấu trúc vốn tài chính Nợ phải trả là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán với các chủ nợ số gốc và các khoản chi phí sử dụng vốn theo thời hạn quy định, không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm nợ phải trả cho nhà cung cấp, nợ vay từ ngân hàng, nợ thuế của Nhà nước, … và các khoản nợ phải trả khác. Vốn chủ sở hữu là phần vốn doanh nghiệp được quyền sử dụng nhưng không phải cam kết thanh toán, gồm vốn do các bên đóng góp và được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đây là loại vốn có chi phí sử dụng vốn khá cao, có ảnh hưởng đến việc quản lý doanh nghiệp và có thể thay đổi tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính Cấu trúc tài chính thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp nên khi phân tích cấu trúc tài chính cần xem xét khả năng sử dụng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hay phải sử dụng nguồn vốn bên ngoài. Để đo lường cấu trúc tài chính thông thường sẽ sử dụng các chỉ số: tỷ suất nợ (gồm tỷ suất nợ phải trả, tỷ suất nợ ngắn hạn, tỷ suất nợ dài hạn), tỷ suất tự tài trợ (tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) hay tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu. Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính của doanh nghiệp: 11 Tỷ suất nợ trên tổng tài sản ợ ℎả ả ỷ ấ ợ= × 100% ổ à ả Chi tiết: ợ ắ ℎạ ỷ ấ ợ ắ ℎạ = × 100% ổ à ả ợ à ℎạ ỷ ấ ợ à ℎạ = × 100% ổ à ả Chỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ.
Tỷ suất này càng cao thì mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn và khả năng tiếp nhận các khoản nợ vay càng nhỏ, doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt động kém. Ngược lại, tỷ suất này càng thấp chứng tỏ mức độ đầu tư tài sản phụ thuộc vào nợ càng thấp. Đối với chủ nợ, chỉ tiêu này càng cao thì xác suất không thu hồi được vốn càng cao vì giá thực tế khi thanh lý tài sản sẽ nhỏ hơn giá trị ghi sổ của tài sản nếu chủ nợ phải bán để thu hồi vốn, do vậy họ thường thích những doanh nghiệp có tỷ suất nợ thấp. Đây là một chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp.
Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu: ợ ℎả ả ỷ ấ ợ ê ố ℎủ ở ℎữ = × 100% ố ℎủ ở ℎữ Chỉ tiêu này thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu, nó phản ánh tính tự chủ của doanh nghiệp, phản ánh năng lực tài chính, khả năng chủ động của doanh nghiệp về nguồn vốn kinh doanh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp, còn được gọi là đòn cân nợ. Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn 1, doanh nghiệp chủ động về vốn kinh doanh. Khi chỉ tiêu này lớn hơn 1, khả năng thanh toán các khoản nợ giảm, doanh nghiệp khó tự chủ về tài chính, tình trạng phá sản dễ xảy ra, hiệu ứng đòn cân nợ giảm. Mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và giá trị của doanh nghiệp Giá trị của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình hoạt động kinh doanh, được đo lường bằng giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá sau khi trừ đi các khoản nợ phải trả, có thể xác định theo giá trị trường hoặc theo giá sổ sách, được thể hiện bằng công thức: Giá trị doanh nghiệp = Tổng tài sản – Nợ phải trả Như vậy, giá trị của doanh nghiệp là giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của các chủ sở hữu doanh nghiệp.
Hoặc ta có thể xác định giá trị doanh nghiệp theo quan điểm vận động của đồng vốn với kỳ vọng gia tăng giá trị doanh nghiệp, tức là gia tăng vốn chủ sở hữu được thể hiện như sau: Tại thời điểm đầu tư hay bắt đầu một kỳ hoạt động của doanh nghiệp, giá trị của doanh nghiệp được xác định: Vốn chủ sử hữu (VE) = Tổng tài sản (V) – Nợ phải trả (D) Sau một kỳ hoạt động, tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp là V1. Nhà đầu tư với tư cách là chủ nợ đạt được giá trị kỳ vọng là D(1+i), trong đó i là lãi suất vay nợ. Nhà đầu tư với tư cách là chủ sở hữu kỳ vọng vào một sự gia tăng giá trị của doanh nghiệp là VE + VE.kE là giá trị kỳ vọng tăng thêm của vốn chủ sở hữu, kE là tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Như vậy: Giá trị doanh nghiệp = V1 – D(1 + i) = VE + VE.kE Giá trị kỳ vọng của các chủ nợ không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp nên có tính cố định và khả năng đạt được cao do doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả cho chủ nợ ngoại trừ những rủi ro bất khả kháng hay phá sản.
Còn giá trị doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, được thể hiện bằng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Việc sử dụng nợ của doanh nghiệp có thể làm tăng 13 hoặc giảm tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, từ đó làm tăng hoặc giảm giá trị doanh nghiệp, đây chính là hiệu ứng đòn bẩy tài chính. Thực chất, đòn bẩy tài chính thể hiện cấu trúc tài chính của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại. Trong kinh doanh, đòn bẩy tài chính là một công cụ để tăng tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu.
Nó liên quan đến việc thay thế các khoản nợ vay có chi phí lãi vay cố định cho vốn chủ sở hữu với hy vọng làm gia tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Nhưng không phải lúc nào đòn bẩy tài chính cũng ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Nếu lợi nhuận hoạt động thấp hơn giá trị cần thiết thì đòn bẩy tài chính làm giảm tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Việc gia tăng đòn bẩy tài chính có hai tác động, cần phải có thu nhập từ hoạt động kinh doanh nhiều hơn để trang trải các chi phí tài chính cố định, tuy nhiên khi đã đạt đến điểm hòa vốn thì lợi nhuận sẽ gia tăng nhanh chóng với mỗi phần thu nhập tăng thêm.
Để xem xét các tác động này, chúng ta sẽ xem xét hiệu ứng của đòn bẩy tài chính lên tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, ta ký hiệu như sau: EBIT : Lợi nhuận trước thuế và lãi vay t : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp i : Lãi suất vay D : Khoản nợ vay r : Suất sinh lời vốn đầu tư ROIC i’=(1-t).i : Lãi suất vay sau thuế E : Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu ợ ℎ ậ ℎ ế = ố ℎủ ở ℎữ ( −. (1 − ) = = − 14 ( ) = − ′ Đặt (1 − ) = + Suy ra: + = − ′ = +( − ) Qua công thức trên, chúng ta sẽ xem xét tác động của đòn bẩy tài chính lên ROE tùy thuộc vào độ lớn của r và i'. Trong đó, r có thể được xem là tỷ suất sinh lời mà doanh nghiệp có được trước khi xem xét các tác động của đòn bẩy tài chính.
Xét các trường hợp sau: Nếu r > i’ : đòn bẩy tài chính sẽ làm tăng ROE hay làm tăng giá trị doanh nghiệp. Nếu r < i’ : đòn bẩy tài chính sẽ làm giảm ROE hay làm giảm giá trị doanh nghiệp.