CHƯƠNG 1: BIỆN PHÁP TỰ VỆ THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT WTO Ngày nay, sự tham gia vào thương mại quốc tế đã trở thành xu thế, do vậy, các quốc gia cần những cơ chế chung trong luật pháp quốc tế để đảm bảo cho nền sản xuất trong nước đi đúng hướng và duy trì sự cạnh tranh giữa hàng hóa nội địa và hàng hóa nhập khẩu. Chính vì lẽ đó, biện pháp tự vệ thương mại đã và đang là những công cụ bảo vệ khi nền sản xuất của quốc gia nhập khẩu chịu thiệt hại từ sự gia tăng đột biến của hàng hóa nhập khẩu.4 Điều XIX của GATT 1994 và Hiệp định Tự vệ là cơ sở pháp lý hiện hành cho việc áp dụng biện pháp tự vệ của các quốc gia trong thương mại quốc tế. Để hiểu rõ hơn về hoàn cảnh ra đời, quá trình hình thành và hoàn thiện cơ chế áp dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, chương này có trọng tâm nghiên cứu là phân tích các quy định về biện pháp tự vệ trong pháp luật WTO mà cụ thể là quy định tại Điều XIX của GATT 1994 và Hiệp định Tự vệ. Bên cạnh đó, bối cảnh thương mại quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai và sự cần thiết của các điều khoản lối thoát trong quá trình xây dựng luật thương mại quốc tế cũng sẽ được trình bày trong chương này.
Tổng quan về biện pháp tự vệ thương mại 1. Sự hình thành biện pháp tự vệ thương mại Tự do hóa thương mại đã trở thành chính sách trọng tâm của nhiều quốc gia kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự hình thành chủ nghĩa xã hội, hệ thống thuộc địa tan rã và xu hướng hợp tác quốc tế, mở rộng chuyên môn hóa đã thúc đẩy các quốc gia hướng đến chính sách tự do hóa.5 Thêm vào đó, lý thuyết lợi thế so sánh, một học thuyết quan trọng và là nền tảng của trao đổi thương mại quốc tế, đã nêu ra những mặt tích cực khi tham gia vào thương mại quốc tế của các quốc gia. Học thuyết đã 4 Cục Phòng vệ Thương mại – Bộ Công thương, “Biện pháp phòng vệ thương mại trong môi trường thực thi các FTA thế hệ mới” (Tạp chí tài chính, 01/07/2019), <https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/bien- phap-phong-ve-thuong-mai-trong-moi-truong-thuc-thi-cac-fta-the-he-moi-309175.html> truy cập ngày 28/02/2021.
5 Nguyễn Thanh Bình, Doãn Công Khánh, “Tự do hóa thương mại: Lý luận, kinh nghiệm và giải pháp cho Việt Nam” (Tạp chí Cộng sản, 17/08/2020), <https://www.vn/web/guest/kinh-te/- /2018/817137/tu-do-hoa-thuong-mai--ly-luan%2C-kinh-nghiem-va-giai-phap-cho-viet-nam.aspx> truy cập ngày 20/02/2021. 2 khẳng định, các quốc gia dù có trình độ phát triển ở mức độ nào, khi tham gia vào thương mại quốc tế đều có khả năng nhận được lợi ích.6 Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực đến nền kinh tế, việc áp dụng các hình thức thực thi chính sách tự do hóa thương mại như cam kết mở cửa thị trường, xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan vẫn tạo ra những thách thức không nhỏ đối với đa số các quốc gia trên thế giới. Dù vậy, tự do thương mại vẫn trở thành trọng tâm phát triển trong chính sách thương mại của các quốc gia. Năm 1947, 23 quốc gia đã cùng nhau ký kết GATT, một thỏa thuận thương mại đóng vai trò là khung pháp lý của hệ thống thương mại toàn cầu trong gần nửa thập kỷ kế tiếp, cùng với đó là cam kết bao gồm 45.7 Các điều khoản về loại bỏ rào cản thuế quan là nội dung chính và trọng tâm, thể hiện rõ mục tiêu thực thi tự do hóa thương mại của Hiệp định.
GATT cũng có những điều khoản là ngoại lệ cho chính sách tự do hóa thương mại. Một trong số đó là quy định tại Điều XIX về Biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu các sản phẩm nhất định. Điều khoản này cho phép quốc gia nhập khẩu hàng hóa có hành động ứng phó đối với sự gia tăng số lượng của hàng hóa nhập khẩu đến mức gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất nội địa của mình. Theo đó, các quốc gia có thể dừng toàn bộ hay một phần các cam kết, rút bỏ hay điều chỉnh các nhượng bộ về thuế quan trong khuôn khổ liên quan đến sản phẩm đó và trong một khoảng thời gian cần thiết để dự đoán và khắc phục thiệt hại từ sự gia tăng số lượng hàng hóa một cách không thể lường trước được.
Các biện pháp khẩn cấp được các quốc gia thực hiện theo Điều XIX của GATT 1947 còn có tên gọi khác là biện pháp tự vệ thương mại. 6 Nguyễn Thường Lạng, “Mối quan hệ giữa quy luật lợi thế so sánh với các nguyên tắc của WTO” (Trung tâm WTO, 22/04/2011)”, <https://trungtamwto.vn/chuyen-de/2114-moi-quan-he-giua-quy-luat-loi-the-so- sanh-voi-cac-nguyen-tac-cua-wto>, truy cập ngày 10/05/2021. 7 Trung tâm thông tin Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn, “Tổng quan chung về WTO” (Trung tâm thông tin Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn, 18/09/2007), <http://agro.vn/vn/tID1193_Tong-quan-chung-ve- WTO.html>, truy cập ngày 19/02/2021. 3 Biện pháp tự vệ thương mại trong GATT có nguồn gốc xuất phát từ sự tham khảo điều khoản lối thoát từ Hiệp định thương mại giữa Mỹ và Mexico vào năm 1942.8 Mỹ đề xuất các điều khoản miễn trừ nghĩa vụ như là một nội dung trong các hiệp định thương mại nhằm cho phép các rào cản thương mại đối với sự gia tăng lượng hàng hóa gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa.9 Biện pháp tự vệ thương mại kết hợp cùng với biện pháp chống bán phá giá và biện pháp đối kháng (Điều VI) trở thành ba biện pháp phòng vệ thương mại được GATT 1947 điều chỉnh.
Trong đó, biện pháp tự vệ thương mại được gọi là điều khoản giải thoát vì nó là cơ sở để các quốc gia tạm thời hạn chế sự cạnh tranh giữa ngành sản xuất nội địa với hàng hóa nhập khẩu, cho phép ngành sản xuất trong nước có thời gian điều chỉnh để thích ứng với môi trường cạnh tranh mới.10 Tuy nhiên, quy định về biện pháp tự vệ thương mại tại thời điểm này vẫn còn chưa rõ ràng, bao gồm năm đoạn với các quy tắc và điều kiện cơ bản, từ đó dẫn đến bất đồng trong cách hiểu và thực tiễn thi hành của nhiều quốc gia. Chính vì vậy, GATT 1947 nói chung và quy định về biện pháp tự vệ thương mại nói riêng đứng trước nhiều thách thức và đòi hỏi những thay đổi, bổ sung cần thiết. Quá trình hoàn thiện các quy định về biện pháp tự vệ thương mại Tính từ năm 1947, thời điểm GATT xuất hiện, biện pháp tự vệ thương mại đã được điều chỉnh bởi Hiệp định này và duy trì tới tận ngày nay. Sự duy trì liên tục và có những sửa đổi, bổ sung đã hình thành một khung pháp lý cho biện pháp tự vệ thương mại.
Quy định tại Điều XIX của GATT 1947 chỉ gói gọn trong năm đoạn, do vậy, nó bị đánh giá là ngắn và thiếu chi tiết. Điều này đã dẫn đến việc áp dụng các biện pháp lách luật.11 Các quốc gia có xu hướng áp dụng những biện pháp như kiềm chế xuất khẩu tự nguyện (VERs), thỏa thuận kiềm chế tự nguyện (VRAs) và thỏa thuận tiếp 8 Jorge F. Perez-Lopez (1991), GATT Safeguards: A Critical Review of Article XIX and Its Implementation in Selected Countries, 23 Case W. 10 Peter Van den Bossche và Werner Zdouc (2013), The Law and Policy of the World Trade Organization Third Edition, nxb Cambridge University Press, UK, trang 607.
11 Peter Van den Bossche và Werner Zdouc (2013), tlđd (10), trang 608. 4 thị trật tự (OMAs)12 hơn là sử dụng Điều XIX của GATT 1947 để điều chỉnh các hành vi nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích kinh tế của mình. Các biện pháp nêu trên không dẫn đến bồi thường và chỉ được áp dụng một cách có chọn lọc đến những quốc gia xuất khẩu chính, do vậy, nó có tính phổ biến hơn là biện pháp tự vệ. Cuối vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), các quốc gia đã thảo luận và thông qua Hiệp định Tự vệ tại Hội nghị Bộ trưởng Marrakesh, cùng với các Hiệp định được ký kết trong khuôn khổ WTO khác.
Hiệp định Tự vệ được thảo luận với mục đích làm rõ cho Điều XIX của GATT, tái thiết sự kiểm soát đối với biện pháp tự vệ thương mại và các biện pháp kể trên. Một trong những mục tiêu của Hiệp định Tự vệ là cấm những biện pháp né tránh sự giám sát đa phương và đòi hỏi rằng các biện pháp tự vệ thương mại phải thỏa mãn quy định về các biện pháp khẩn cấp dành cho các hàng hóa đặc biệt theo Điều XIX của GATT 1994 và Hiệp định Tự vệ.13 Hiệp định Tự vệ chính là sự khác biệt của GATT 1994 với GATT 1947 khi mà các quy tắc cơ bản trong GATT đã được quy định chi tiết và cụ thể hơn, tạo thuận lợi cho việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại trên thực tế. Hiệp định Tự vệ có 14 Điều, quy định về các nội dung quan trọng như điều kiện áp dụng, điều tra, thông báo, thời hạn, rà soát việc áp dụng,… đã giải quyết vấn đề chưa có những hướng dẫn thống nhất cho quy trình điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của các quốc gia. Quy định về biện pháp tự vệ thương mại trong GATT 1994 và Hiệp định Tự vệ 1.
Điều kiện phải chứng minh Một quốc gia nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ thương mại sau khi đã chứng minh được sự tồn tại của đồng thời ba điều kiện tiên quyết. Thứ nhất, sự gia tăng đột biến về số lượng hàng hóa nhập khẩu. Để chứng minh được điều kiện này, quốc gia nhập khẩu phải xác định sự gia tăng này là gia tăng tuyệt đối (sự gia tăng mang tính định lượng cụ thể, được tính toán bằng tấn hoặc số lượng đơn 12 Peter Van den Bossche và Werner Zdouc (2013), tlđd (10), trang 608. 13 Lời nói đầu Hiệp định Tự vệ.
5 vị hàng hóa nhập khẩu) hoặc tương đối (sự gia tăng nhập khẩu trong tương quan với tình trạng ngành sản xuất nội địa, ví dụ như trường hợp lượng hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa đều giảm trong cùng năm nhưng hàng nhập khẩu giảm ít hơn hàng nội địa ) so với sản xuất trong nước.14 Hiệp định Tự vệ không có hướng dẫn về cách thức chứng minh và xác định cụ thể của việc gia tăng lượng nhập khẩu hàng hóa của các quốc gia. Tuy nhiên, các quốc gia có thể chứng minh theo 4 căn cứ sau: (i) gia tăng trong thời gian gần đây; (ii) gia tăng một cách bất ngờ; (iii) gia tăng một cách đáng kể; (iv) mức độ ảnh hưởng khi có sự gia tăng hàng hóa.