Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE TỶ GIÁ HOI ĐOÁI VÀ CÁC MÔ HÌNH CHUOI THỜI GIAN 1. CƠ SỞ LÝ THUYET VE TỶ GIÁ HOI ĐOÁI 1. Khái niệm Đi cùng với tăng trưởng của kinh tế thế giới, thương mại quốc tế trong những năm gần đây mang lại đóng góp và chúng dần được cải thiện và nâng cao, đặc biệt đây là thời điểm giai đoạn toàn cầu hóa cao trong phân công lao động quốc tế, thương mại quốc tế dần trở thành mối bận tâm hàng đầu của các tô chức kinh tế thế giới, là vấn đề quyết định sự sống còn với mỗi quốc gia. Việc lưu hành chung một đơn vị tiền tệ giữa hai nước hay sử dụng đồng tiền của nước thứ ba là điều nên làm dé các quan hệ tin dụng, thanh toán trong giao dich nước ngoài diễn ra thuận lợi cho giao dịch ngoại thương.
Vì vậy việc quy đổi đơn vị tiền tệ giữa hai hay nhiều nước với để giao dịch và định giá trị thanh toán là điều cần thiết và mang ý nghĩa quan trọng. Nhằm tiến hành việc chuyên đổi đó cần dựa vào một mức quy đổi hay định nghĩa xác định, từ đó dần hình thành khái niệm tỷ giá hồi đoái. Người đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái đầu tiên là Kar Mark (1818 - 1883), như trong bộ “Tư bản” (1858) ông CÓ noi: Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế lịch sử, gắn với giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất, cường độ tác động của nó phụ thuộc vào trình độ phát triển thị trường và các giai đoạn cụ thể trong lưu thông tiền tệ thế giới”. Để hiểu được khái niệm vừa nêu trên không phải là điều dễ dàng bởi chúng mang tính lý luận hơn là thực tiễn nhưng cũng đã thể hiện được sự vận động của tỷ giá và tính lịch sử của tỷ giá.
Về sau, khái niệm này dần được đơn giản hóa và có những ý hiểu khác nhau: Theo nhà kinh tế học người Mỹ Paul Anthony Samuelson đã nói rằng: “Tỷ giá hối đoái là tỷ giá dé đổi lay đồng tiền của một nước khác”. Theo Nguyễn Đăng Nhờn (2009), Thanh toán quốc tế, nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: “Tỷ giá hối đoái là quan hệ tỷ lệ so sánh giữa đồng tiền nước này. với đồng tiền nước khác trên cơ sở hàm lượng vàng hoặc sức mua của các đồng tiền đó”. Trong nghị định của Chính phủ, theo điều 4 mục 3.5 về quản lý ngoại hối có nêu quy định: “Tỷ giá hối đoái là giá một đơn vị tiền tệ nước ngoài tinh bằng đơn vị tiền tệ Việt Nam”.
Về phân loại tỷ giá, tỷ giá hối đoái nhìn chung có nhiều loại và tùy theo mục đích nghiên cứu, xem xét mà ta đưa ra quyết định chọn loại tỷ giá nào. Thế nhưng có 10 11181685 — Nguyễn Thu Hiền Chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Toán Kinh tế hai loại điển hình mà các nhà kinh tế học thường chú ý đó là tỷ giá hối đoái thực tế và tỷ giá hồi đoái danh nghĩa. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là loại tỷ giá không xem xét mối tương quan giữa giá cả hay sự tương quan lạm phát giữa hai nước. Tỷ giá hối đoái thực tế là loại tỷ giá xem xét đến sự tương quan giá cả giữa hai nước hoặc tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước.
Chức năng của tỷ giá “+ Chức năng so sánh sức mua giữa các dong tiên Hầu hết các hoạt động tính toán hay trong ngoại thương ví dụ như tính sự hiệu quả của các mối quan hệ kinh tế với nước đối tác, quyết định tham giá hợp tác trong kinh tế và nhận nguồn đầu tư nước ngoai,.đều được thé hiện qua don vi tiền tệ, qua sự so sánh đồng tiền nội địa với đồng tiền nước ngoai. Vi vay,dé dam bảo được tinh ngang gia strc mua thi phai thong qua ty gia. Nhu vay, ty gia phan anh chan that khách quan và đúng chức năng thước đo giá trị của đồng tién. * Chức năng khuyến khích Doanh thu cũng như thu nhập của doanh nghiệp xuất-nhập khẩu phụ thuộc vào việc ty giá thấp hay cao bởi chúng đem lại một vài ảnh hưởng nhất định.
Cụ thé tỷ giá cao tức là đồng nội tệ giảm giá và đồng ngoại tệ tăng giá, đồng nội tệ rẻ một cách tương đối so với ngoại tệ, kích thích người nước ngoài mua hàng hóa trong nước từ đó kích thích nền sản xuất trong nước, tăng xuất khẩu ra quốc tế. Ngược lại tỷ giá thấp tức nội tệ tăng giá và ngoại tệ giảm giá, hàng hóa trong nước đắt hơn tương đối so với hàng hóa quốc tế từ đó kích thích gia tăng hàng nhập khâu. Cho nên việc chính phủ mỗi nước cần làm đó là khích lệ doanh nghiệp kinh doanh nên tích cực tham gia các hoạt động buôn bán ra nước ngoài, kinh tế đối ngoại, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế thông qua việc điều chỉnh tỷ giá sao cho phù hợp. “+ Chức năng phân phối Trong nên kinh tế đối ngoại nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung, sự thay đổi thu nhập là thước đo thê hiển việc phân phối của tỷ giá.
Nhờ vào sự phân phối này, tỷ giá hối đoái được coi là một công cụ quan trọng, được nhà nước sử dụng dé 11 11181685 — Nguyén Thu Hién Chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Toán Kinh tế phân phối lại thu nhập giữa các quốc gia có sự hợp tác kinh tế với nhau. Khi một quốc gia phá giá đồng nội tệ với tỷ lệ lớn làm gia tăng khả năng xuất khẩu, phân phối lại một phần thu nhập của các nhà nhập khẩu. Vai trò của tỷ giá tới nền kinh tế Tác động của tỷ giá hối đoái và những biến động của chúng có ảnh hưởng nhất định đến một vài khía cạnh của đời sống kinh tế của chúng ta. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái có tác động to lớn đến nền kinh tế cả trong ngắn hạn và trong thời gian dài.
Đối với hàng hóa, trong thời kỳ hội nhập toàn cầu thì việc có nhu cầu sử dụng những sản phẩm có xuất sứ nước ngoài trở nên thịnh hành và phô biến, thậm chí một số loại sản phẩm còn phố biến hơn những mặt hàng nội địa. Ty giá có tác động đáng kể đến giá phải trả cho các sản phẩm nhập khẩu, đồng nội tệ yếu hơn có nghĩa là giá phải trả cho hàng hóa nước ngoài sẽ tăng lên. Đối với lãi suất và lạm phát, ở một đất nước có lượng nhập khâu lớn, đồng nội tệ có giá trị thấp có thé là nguyên nhân dẫn đến làm lạm phat tăng cao vì giá các sản phẩm nước ngoài cao hơn. Và để chống lại lạm phát, NHTW sẽ phải tăng lãi suất, tránh tình trạng lao dốc mạnh cũng như hỗ trợ tiền tệ.
Trái lại, một đồng tiền mạnh sẽ làm giảm lạm phát và kéo nền kinh tế đi xuống. Đồng thời, để tránh việc đồng tiền tăng giá quá nhanh, NHTW có thê tiếp tục giảm hoặc duy trì lãi suất thấp. Do đó, tỷ giá có ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất cho những khoản vay mua thế chấp, hoặc lãi suât nhận được đôi với tiên trong tài khoản thị trường tiên tệ hay trong tài khoản tiết kiệm của mỗi người. Đối với đầu tư, tỷ giá bị biến động cũng có thể có đem lại ảnh hưởng đáng ké đến danh mục đầu tư, không chỉ những khoản đầu tư nước ngoài mà những những khoản trong nước cũng bị ảnh hưởng theo.
Ví dụ, đồng đô la mạnh thường làm giảm nhu cầu hàng hóa toàn cầu vì chúng được định giá bằng đô la. Nhu cầu thấp hơn này có thể ảnh hưởng đến thu nhập và định giá của các nhà sản xuất hàng hóa trong nước, mặc dù một phần tác động tiêu cực sẽ được giảm thiểu bởi đồng nội tệ yếu. 12 11181685 — Nguyễn Thu Hiền Chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Toán Kinh tế 1. CƠ SỞ LÝ THUYET VE PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
Mô hình ARIMA (Tự hồi qui tích hợp Trung bình trượt) 1. Giới thiệu George Box va Gwilym Jenkins là hai nhà toán học đã nghiên cứu và giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1976 các mô hình ARIMA (Autoregressive Integrated Moving Average) với mục đích tận dụng các thông tin có sẵn trong chính bản thân biến đó để tìm ra hiểu sự biến thiên của nó. Đây là phương pháp dự báo chuỗi thời gian được áp dụng phô biến trong dự báo kinh tế có độ nhạy cảm ví dụ như chỉ số chứng khoán, lãi suất, giá vang,.trong khoảng thời gian ngắn han. ARIMA nghĩa là: - AR - Autogressive (quá trình tự hồi quy) - I - Integrated (chuỗi đừng sau khi đã chuyền sang dang sai phân) - MA - Moving Average (quá trình trung bình trượt) Các mô hình ARIMA liên quan tới biến số có sự thay đôi theo thời gian và có thê là chỉ phụ thuộc vào thời gian hiện tại và giá trị trước đây (tức là, nó không phụ thuộc vào bat kỳ biến số nào hoặc yếu tố bên ngoài nào).
Nếu Y; là giá trị của biến số tại thời điểm t, thì phương trình cho Y; sẽ là ŸY,= f t V ie n» Y o , E ) Có nghĩa là, giá trị của biến số tại thời điểm t đơn thuần là phương trình giá trị trước đó và thời gian, không có biến số nào/yếu tố nào là liên quan đến biến số này. Mục đích của phương pháp này là tìm ra bản chất của phương trình f, để thấy rõ mối quan hệ giữa Y, được quan sát đến nay và có thé dự báo giá trị Y trong tương lai. Tính dừng Một quá trình ngẫu nhiên Y, gọi là dừng nếu “phương sai và trung bình không thay đổi theo thời gian và giá trị đồng phương sai giữa hai thời đoạn chỉ phụ thuộc vào khoảng cách hay độ trễ về thởi gian giữa hai thời đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế mà đồng phương sai được tính”. 13 11181685 — Nguyễn Thu Hiền Chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Toán Kinh tế * Cụ thể: Trung bình: E(Y,) = uw = const Vt Phuong sai: Var(Y,) = 6? = const Vt Đồng phương sai: Cov(¥;, Yer) = E[Œ, — ere — H)] = Ye Y, được coi là không dừng nếu nó vi phạm ít nhất một trong ba điều kiện trên.