CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VE LAM PHÁT VÀ DỰ BÁO LẠM PHÁT 1.1 Tổng quan về lạm phát 1.LI Khái niệm về lạm phát Lạm phát là một phạm trù vôn có của nên kinh tê thị trường, nó đã trở thành môi quan tâm của rât nhiêu người. Vậy lạm phát là gì? e Trong bộ Tu ban của mình, Các Mác viết: “Số tién giấy phát hành phải được giới hạn bởi số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông”. Theo ông, lạm phát xuất hện khi khối lượng tiền giấy do Nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống. e Nhà kinh tế học Paul A Samuelson cho rang: “Lam phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng - giá bánh mỳ, xăng dâu, giá đất tăng”!.
Theo ông, mức giá chung tăng lên, được đo bằng chỉ số giá cả - chỉ số trung bình của giá tiêu dùng hoặc giá sản xuất, trong đó, CPI được sử dụng rộng rãi nhất. e Quan niệm cổ điển cho rằng: “Lạm phát là hiện tượng tăng lên của mức giá chung tại một thời điểm”. Tuy nhiên không phải mọi sự tăng lên của mức giá chung đều đáng lo ngại. Nếu giá cả chỉ tăng trong ngắn hạn, sau đó lại giảm xuống thì đó chỉ là kết quả của biến động cung cầu tạm thời.
© Quan điểm của nhiều nhà kinh tế học theo trường phái Keynes, lạm phát được định nghĩa “là sự tăng liên tục của mức giá chung””. Cụ thể, mức giá chung tăng lên chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, còn tăng với tốc độ cao và kéo dai mới là ban chất. Điều này phù hợp với mục tiêu 6n định giá trong dài han của NHTW (vì NHTW chỉ có thé điều chỉnh giá trong dai hạn). > Qua các định nghĩa trên ta có thé định nghĩa: Lam phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong một thời gian dài.2 Các đặc trưng cơ bản của lạm phát Lạm phát có thể nhận diện thông qua những đặc trưng cơ bản sau: e Lượng tiền giấy trong lưu thông gia tăng quá mức dẫn tới đồng tiền mất giá; e Sự tăng giá cả đồng bộ, phân phối lại giá cả; e Sự bat ôn về kinh tế-xã hội.3 Phân loại lạm phát 1.
Căn cứ theo định lượng: ' Kinh tế học của PAS và W.Nordhaus dịch và xuất bản Tiếng Việt 1989 tập 1 tr281 ? Giáo trình Kinh tê học tập H, NXB Đại học Kinh tê Quốc dân, tr324 Nguyễn Thị Hà - 11191549 4 Chuyên đề tốt nghiệp khoa Toán kinh té Lạm phát vừa phải: (dưới 10%/ năm, có thé dự đoán được) trong trường hợp này, giá trị tiền tệ tương đối ồn định, tạo môi trường thuận lợi cho nên kinh tế xã hội phát triển, tác hại không đáng kê (người tiêu dùng giữ tiền vì họ tin rằng gid trị của nó sẽ không thay đổi trong thời gian ngắn). Lạm phát phi mã: (hai hoặc ba con số) xảy ra khi giá cả tăng nhanh, đồng tiền mat giá nhiều, người tiêu dùng chỉ giữ lượng tiền vừa đủ do chi phí cơ hội của việc giữ tiền cao; lãi suất thực tế thường âm nên mọi người chọn cách giữ hàng hóa, vàng hay ngoại té,. Sản xuất không phát triển, hệ thống tài chính bat ôn. Điền hình là cuộc lam phát ở Việt Nam trong những năm 80 (lên đến 700%/năm).
Siêu lạm phát: xảy ra khi tốc độ tăng giá gấp ngàn lần mức lạm phát phi mã. Nền kinh tế sẽ bị hủy hoại toàn bộ hoạt động, suy thoái nghiêm trọng và giá trị đồng tiền gần như biến mat hoàn toàn, cuộc sông người dân vô cùng khó khăn. Theo nha kinh tế Mỹ Phillip Cagan, siêu lạm phát có nghĩa là “mirc lạm phát hàng tháng từ 500% trở lên” và thê giới đã trải qua 15 cuộc siêu lạm phát. Điển hình là cuộc siêu lạm phát ở Bolivia năm 1985 (50.000%), ở Đức với tỷ lệ 10.000% năm 1923 và ở Zimbabwe vào 7/2008 (2.000%), giá 1 quả trứng là 7,5 tỷ đôla Zimbabwe! 1.
Căn cứ theo định tính: Lạm phát thuần tuý: giá tất cả các hàng hoá và dịch vụ tăng cùng một tỷ lệ, dẫn tới giá cả tương đối giữa các mặt hàng là không thay đổi. Trên thực tế hầu như không xảy ra trường hợp lạm phát này. Lạm phát dự tính được: lạm phát xảy ra trong thời kỳ tương đối dài với tỷ lệ ôn định như dự tính của các nhà kinh tế. Các khoản vay cũng như hợp đồng đã được điều chỉnh phù hợp với lãi suất, người tiêu dùng cũng đã quen dần với mức lạm phát đó nên tình trạng này ảnh hưởng ít tới đời sống kinh tế, xã hội.
Lạm phát bắt ngo: lạm phát xảy ra khi không được dự kiến từ trước hay chưa từng xuất hiện trước đó. Hậu quả là gây đảo lộn trật tự kinh tế, làm phát sinh lo lắng và hoài nghi về năng lực điều hành của chính phủ trong nhận thức của người dân. Vì vậy đây là loại lạm phát rất nguy hiểm. Căn cứ vào nguyên nhân: Lam phát được chia thành 5 loại: lạm phát tiền tệ, lạm phát cầu kéo, lạm phát chi phí day, lạm phát cơ cấu, lam phát ngân sách.
Căn cứ vào sự biến động: 3 Giáo trình Kinh tế học tập II, NXB Dai học Kinh tế Quốc dân, tr327 4 Sachs, J.(1993), Macroeconomics in the Global Economy, Harvester Wheatsheaf, New York Nguyễn Thi Hà - 11191549 5 Chuyên đề tốt nghiệp khoa Toán kinh tế Y Lam phát ngắn han: được biêu hiện bằng sự biến động của giá cả trong ngắn hạn, mang tính thời vụ, như lạm phát tháng, quý, năm và được đo bằng CPI. Y Lam phát dài hạn: Thể hiện xu hướng của lạm phát trong dài hạn. Lạm phát dài hạn thường được đo bằng chỉ số lạm phát cơ bản.4 Phương pháp do lường lạm phát 1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI- Consumer Price Index) Chỉ số CPI đo lường, phản ánh sự tăng, giảm giá của một giỏ hàng hóa (được sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu), dịch vụ cố định theo thời gian, được mua bởi người tiêu dùng điển hình (hộ gia đình).
Cách xác định CPI đó là chọn ra một giỏ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tiêu biểu của các hộ gia đình và mức độ tiêu dùng dich vu, hàng hóa đó trong một thời gian nhất định. Chủng loại hàng hóa trong giỏ sẽ thay đổi sao cho phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, thị hiếu và kỳ vọng tiêu dùng của người dân. Công thức tính chỉ số CPI: n = » ípjđ) j=1 Trong do: [,, chi số tiêu dùng ty; chỉ số của hàng hoá hay dịch vụ thứ j d; ty trọng tiêu dùng của hang hoá hay dịch vụ thứ j Hầu hết các quốc gia đều sử dụng chỉ số tiêu dùng để tính tỷ lệ lạm phát theo công thức: G„ = (4) x 100% Ip 1 Trong đó: G, là tỷ lệ lạm phát (%) Ip, Ip—1 là chỉ số giá tại thời kỳ hiện tại và kỳ trước 1. Chỉ số giá sản xuất (PPI- Producer Price Index) Chỉ số giá sản xuất phản ánh chi phí sản xuất bình quân của xã hội.
Mức gia mà người tiêu dùng chỉ trả bao gồm trợ cấp giá lợi nhuận và thuế. Khi chịu áp lực của chỉ phí nguyên liệu đầu vào hay lợi nhuận, năng suất lao động sẽ dẫn đến PPI thay đổi, làm biến động mức giá chung của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và làm biến động CPI. Chỉ số PPI được xác định theo phương pháp tương tự CPI nhưng do sự phức tạp của việc thu thập số liệu và xác định ty trọng nên ít quốc gia tiễn hành tính chỉ số này. Nguyễn Thị Hà - 11191549 6 Chuyên đề tốt nghiệp khoa Toán kinh tế 1.
Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội - GDP Đây là chỉ số đo sự biến động của mức giá tất cả hàng hóa, dịch vụ được sản xuất và phục vụ trong một quốc gia, với GDP danh nghĩa đo lường sản lượng theo giá hiện tại còn GDP thực đo lường sản lượng theo năm cơ bản ta có công thức sau: Chi số giảm 1 SỐ glam phát GDP = “Danh NGM pha = GDP thực oo 0 1. Chỉ số lạm phát cơ bản Lạm phát cơ bản là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá xu hướng hay diễn biến chung của giá tiêu dùng bình quân. Đây là chỉ tiêu tương đối, bố sung cho CPI, cụ thể nó cung cấp thông tin về xu hướng dài hạn của giá tiêu dùng co các nhà hoạch định chính sách và còn được sử dụng như chỉ số lạm phát tương lai. Phương pháp loại trừ được nhiều quốc gia sử dụng trong việc tính chỉ số lạm phát cơ bản, nhằm loại bỏ những biến động tạm thời, yếu tố ngẫu nhiên của giá cả một số mặt hàng trong rô CPI (như lương thực, thực phẩm, năng lượng”).
Một số phương pháp khác thường được sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích như: thống kê thuần túy, tính lại quyền số mới, bình quân gia quyền nghịch dao độ lệch chuẩn hoặc phương sai. Tâm quan trọng của đo lường lạm phát: Lạm phát khiến cho giá trị của đồng tiền hoặc thu nhập giảm đi so với giá cả hàng hóa, dịch vụ cơ bản, sức mua của người tiêu dung khi đó bị giảm đi. Do đó muốn phản ánh mối quan hệ giữa hàng hóa, dịch vụ và mức thu nhập thì việc đo lường lạm phát là vô cùng quan trọng.15 Tác động của lam phát đến đời sống, kinh tế Trong thực tế, lạm phát thường có hai đặc điểm chính gây tác động tới nền kinh tế đó là: tốc độ tăng không đồng đều giữa các mặt hàng, tốc độ tăng giá và lương cũng không đồng thời thông qua việc phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân, gây ra biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nên kinh tế. Dé hiểu rõ hơn những ton thất ấy, ta nghiên cứu hai trường hợp sau: 1.1 Tac động của lạm phát dự tinh được Đa số mọi người đều nghĩ rằng hậu quả của lạm phát tự tính được là không đáng kể, ít gây tốn hại đến nền kinh tế.
Trên thực té, những hậu quả rõ rệt của loại lạm phát này gây ra như sau: - Thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người lao động có quan hệ với nhau thông qua tỷ lệ lạm phát. Khi lạm phát tăng, thu nhập danh nghĩa vẫn giữ nguyên nhưng thu nhập thực tế bị giảm xuống.