Luận văn thạc sĩ về phân tích asen trong xử lý nước tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn thạc sĩ phân tích asen trong xử lý nước bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử, cung cấp kiến thức và ứng dụng thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa Phân Tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

2012

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát chung về Asen

1.1.1. Giới thiệu chung về Asen

1.1.2. Nguồn gốc và các dạng tồn tại của Asen trong tự nhiên

1.1.3. Tính chất lí, hóa học một số hợp chất của Asen

1.1.3.1. Các hợp chất Asen vô cơ
1.1.3.2. Hợp chất hữu cơ của Asen

1.1.4. Độc tính của Asen

1.2. Tình trạng ô nhiễm Asen

1.3. Một số phương pháp phân tích Asen

1.3.1. Phương pháp điện hoá

1.3.2. Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-Vis

1.3.3. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS

1.4. Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc

1.4.1. Phương pháp kính hiển vi điện tử quét SEM

1.4.2. Phương pháp nhiễu xạ tia X (X-ray)

1.5. Giới thiệu chung về chất hấp phụ

1.5.1. Chất hấp phụ. Cơ sở và ứng dụng

1.5.2. Giới thiệu một số vật liệu có nguồn gốc tự nhiên

1.5.2.1. Giới thiệu về vật liệu đá ong

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu khả năng hấp phụ

2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc

2.4. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm

2.4.1. Thiết bị thí nghiệm

2.4.2. Dụng cụ thí nghiệm

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu áp dụng phương pháp GF - AAS để định lượng As(III)

3.1.1. Khảo sát chọn vạch đo phổ

3.1.2. Khảo sát chọn cường độ dòng đèn catốt rỗng (HCL)

3.1.3. Khảo sát độ rộng khe đo

3.1.4. Khảo sát ảnh hưởng của loại axit và nồng độ axit

3.1.5. Khảo sát chất cải biến nền

3.1.6. Khảo sát ảnh hưởng của các ion khác đến phép đo

3.1.7. Các thông số đo phổ As của máy quang phổ hấp thụ nguyên tử GF - AAS (AA - 6800)

3.1.8. Khảo sát khoảng tuyến tính và dựng đường chuẩn xác định As

3.2. Chế tạo vật liệu hấp phụ từ đá ong để xử lý As(III)

3.2.1. Chế tạo vật liệu hấp phụ tự nhiên từ đá ong và khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ nung đến khả năng hấp phụ asen của đá ong

3.2.2. Chế tạo vật liệu hấp phụ (VLHP) từ đá ong biến tính

3.2.3. Phân tích hình dạng và cấu trúc của vật liệu hấp phụ

3.2.4. Đánh giá khả năng hấp phụ As của vật liệu hấp phụ

3.2.5. Khảo sát quá trình hấp phụ As trên VLHP (M2) ở điều kiện tĩnh

3.2.6. Xây dựng quy trình xử lý As trong mẫu thực

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích asen trong xử lý nước

Phân tích asen trong xử lý nước là một lĩnh vực quan trọng trong hóa học môi trường. Asen (As) là một nguyên tố độc hại, có mặt trong nhiều nguồn nước, đặc biệt là nước ngầm. Việc xác định nồng độ asen trong nước là cần thiết để đảm bảo an toàn cho sức khỏe con người. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) đã được chứng minh là một công cụ hiệu quả trong việc phân tích asen. Bài viết này sẽ đi sâu vào các phương pháp phân tích asen, thách thức trong xử lý nước và ứng dụng thực tiễn của chúng.

1.1. Khái quát về asen và tác động của nó

Asen là một nguyên tố bán kim loại, có mặt trong tự nhiên dưới nhiều dạng khác nhau. Nó có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm ung thư và các bệnh về da. Nồng độ asen trong nước ngầm ở nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm Việt Nam, thường vượt quá mức cho phép, gây ra mối lo ngại lớn cho cộng đồng.

1.2. Tầm quan trọng của việc phân tích asen trong nước

Việc phân tích asen trong nước không chỉ giúp phát hiện nồng độ của nó mà còn hỗ trợ trong việc xây dựng các biện pháp xử lý hiệu quả. Các phương pháp phân tích hiện đại như AAS cung cấp độ chính xác cao và khả năng phát hiện thấp, giúp đảm bảo an toàn cho nguồn nước sinh hoạt.

II. Thách thức trong phân tích asen trong nước

Mặc dù có nhiều phương pháp phân tích asen, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc xác định chính xác nồng độ của nó trong nước. Các yếu tố như pH, nhiệt độ và sự hiện diện của các ion khác có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích. Hơn nữa, việc sử dụng các thiết bị phân tích đắt tiền cũng là một rào cản lớn đối với nhiều phòng thí nghiệm.

2.1. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến phân tích asen

Các yếu tố như pH và nhiệt độ có thể làm thay đổi trạng thái hóa học của asen, từ đó ảnh hưởng đến độ chính xác của các phương pháp phân tích. Việc kiểm soát các yếu tố này là rất quan trọng để đảm bảo kết quả phân tích chính xác.

2.2. Chi phí và khả năng tiếp cận công nghệ phân tích

Nhiều phương pháp phân tích asen yêu cầu thiết bị đắt tiền và kỹ thuật viên có trình độ cao. Điều này tạo ra một rào cản lớn cho các phòng thí nghiệm ở các nước đang phát triển, nơi mà nguồn lực hạn chế.

III. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS trong phân tích asen

Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) là một trong những kỹ thuật phổ biến nhất để phân tích asen trong nước. AAS cho phép xác định nồng độ asen với độ nhạy cao và độ chính xác tốt. Phương pháp này hoạt động dựa trên nguyên lý hấp thụ ánh sáng của các nguyên tử asen trong mẫu nước.

3.1. Nguyên lý hoạt động của AAS

AAS hoạt động dựa trên việc đo lường lượng ánh sáng bị hấp thụ bởi các nguyên tử asen trong mẫu nước. Khi ánh sáng đi qua mẫu, các nguyên tử asen sẽ hấp thụ một phần ánh sáng, và mức độ hấp thụ này tỷ lệ thuận với nồng độ asen trong mẫu.

3.2. Ưu điểm của phương pháp AAS trong phân tích asen

AAS có nhiều ưu điểm như độ nhạy cao, khả năng phát hiện thấp và thời gian phân tích ngắn. Điều này làm cho AAS trở thành một lựa chọn lý tưởng cho việc phân tích asen trong nước, đặc biệt là trong các phòng thí nghiệm có nguồn lực hạn chế.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phân tích asen trong xử lý nước

Phân tích asen không chỉ giúp xác định nồng độ của nó trong nước mà còn hỗ trợ trong việc phát triển các phương pháp xử lý hiệu quả. Việc sử dụng các vật liệu hấp phụ tự nhiên như đá ong đã cho thấy hiệu quả cao trong việc loại bỏ asen khỏi nước. Nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp giữa phân tích và xử lý có thể mang lại kết quả tốt hơn trong việc đảm bảo an toàn cho nguồn nước.

4.1. Các vật liệu hấp phụ tự nhiên trong xử lý asen

Đá ong là một trong những vật liệu hấp phụ tự nhiên có khả năng loại bỏ asen hiệu quả. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng đá ong có thể giảm nồng độ asen trong nước xuống mức an toàn cho sức khỏe con người.

4.2. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả xử lý asen

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các vật liệu hấp phụ tự nhiên có thể đạt được hiệu suất cao trong việc loại bỏ asen. Kết quả này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn mang lại giá trị kinh tế cho cộng đồng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong phân tích asen

Phân tích asen trong nước là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Việc phát triển các phương pháp phân tích và xử lý hiệu quả sẽ giúp đảm bảo an toàn cho nguồn nước sinh hoạt. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc cải thiện các phương pháp hiện có và phát triển các công nghệ mới để xử lý asen một cách hiệu quả hơn.

5.1. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung vào việc phát triển các vật liệu hấp phụ mới và cải tiến các phương pháp phân tích hiện có. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc xử lý asen và đảm bảo an toàn cho nguồn nước.

5.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ ô nhiễm asen và tầm quan trọng của việc phân tích và xử lý asen trong nước là rất cần thiết. Điều này sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại, vấn đề đảm bảo an toàn cho nguồn nƣớc sinh hoạt đang ngày càng trở thành mối quan tâm chung của nhân loại. Số lƣợng các độc chất phân tán trong môi trƣờng nƣớc ngày một nhiều hơn do các hoạt động sản xuất đa dạng của con ngƣời ngày một tăng. Một trong những nguyên tố gây ô nhiễm và mang độc tính cao nhất là Asen (As). Asen đƣợc xem là độc chất bảng A không chỉ do tính độc hại lớn mà còn do nó có khả năng tích lũy cao trong cơ thể và xâm nhập vào cơ thể qua nhiều con đƣờng đặc biệt là qua sử dụng nguồn nƣớc ngầm.

Bệnh nhiễm độc Asen mãn tính do ngƣời dân sử dụng nguồn nƣớc ngầm bị nhiễm Asen với nồng độ cao quá mức cho phép để ăn uống và sinh hoạt, đã xảy ra ở nhiều nƣớc nhƣ Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Mông Cổ, Myanma, Lào, Campuchia, Đài Loan, Trung Quốc…. Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu từ những năm 1990 cho thấy nồng độ Asen trong các mẫu nƣớc rất lớn. Điển hình nhƣ các mẫu nƣớc ở Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Hƣng Yên, Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa… có nồng độ Asen vƣợt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép đối với nƣớc sinh hoạt. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tiêu chuẩn cho phép đối với Asen trong nƣớc là 10 µg/l.

Trong những thập kỷ gần đây, vấn đề ô nhiễm As ngày càng trở nên nóng bỏng hơn. Vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích và xử lý As bằng nguồn vật liệu hấp phụ đơn giản, có nguồn gốc tự nhiên với giá thành rẻ. Đá tổ ong (thƣờng gọi là đá ong, tên tiếng Anh là laterite) là nguồn khoáng liệu rất phổ biến ở Việt Nam có tính hấp phụ tốt do bề mặt tƣơng đối xốp. Việc tận dụng đá ong để chế tạo vật liệu hấp phụ có ý nghĩa cả về mặt khoa học và kinh tế.

Trong vấn đề nghiên cứu xác định lƣợng vết As trong nƣớc ngầm hiện nay có nhiều phƣơng pháp xác định trên một số thiết bị nhƣ: ICP - MS, ICP - OES, GF - AAS, HVG - AAS, UV - VIS…. Trong đó, một số phƣơng pháp đòi hỏi trang thiết bị rất đắt tiền còn một số phƣơng pháp giới hạn phát hiện lại khá cao hoặc rất độc hại với ngƣời phân tích. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vì vậy, với nhu cầu bức thiết về vấn đề xác định hàm lƣợng As và xử lý As trong nƣớc kết hợp với điều kiện phòng thí nghiệm, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích Asen trong quá trình xử lý nước bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử” với mục tiêu xác định khả năng và các điều kiện để chuyển hóa đá ong thành vật liệu hấp phụ nhằm xử lý As trong nƣớc ngầm và ứng dụng phƣơng pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử với kĩ thuật không ngọn lửa (GF - AAS) để định lƣợng As. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.

Khái quát chung về Asen 1. Giới thiệu chung về Asen Asen (As) hay còn gọi là thạch tín đƣợc nhà bác học Albertus Magnus tìm thấy đầu tiên năm 1250. As là một nguyên tố bán kim loại có mặt ở khắp nơi. Về độ phổ biến, As xếp thứ 20 trong lớp vỏ trái đất, nó chiếm 1.10-4 % tổng số nguyên tử trong vỏ trái đất, xếp thứ 14 trong nƣớc biển và thứ 12 trong cơ thể con ngƣời.

As là nguyên tố có một vài dạng thù hình, dạng không kim loại và dạng kim loại tƣơng đối phổ biến trong thiên nhiên. As tồn tại chủ yếu dƣới dạng khoáng vật sunfu: reanga (As4S3), opirimen (As2S3). Ngoài ra thƣờng lẫn trong các khoáng vật của các kim loại khác [5]. As có ba dạng tồn tại: Asα là dạng bền, tƣơng đối cứng, giòn.

Asβ là dạng vô định hình, giòn. Asγ (gồm những phân tử As4) bền giả, mềm (nhƣ sáp), tan dễ trong cacbon đisunfua, có tính chất giống photpho trắng hoạt tính hóa học cao hơn Asα và Asβ. Thăng hoa khi đun nóng, chƣng cất đƣợc cùng với hơi nƣớc. Trong bảng hệ thống tuần hoàn, As có số thứ tự nguyên tử 33, thuộc chu kỳ 4 nhóm VA, có khối lƣợng nguyên tử 74,9216 g.

As là một á kim có màu xám kim loại, rất giòn và kết tinh dƣới dạng tinh thể. As có thể kết hợp với cả kim loại và phi kim và một số hợp chất hữu cơ để tạo thành các hợp chất vô cơ hay hữu cơ [5]. Các dạng vô cơ bao gồm chủ yếu các hợp chất asenit và asenat, còn các dạng hữu cơ điển hình là các metyl và phenyl asenat. Tùy thuộc vào môi trƣờng địa chất, asen có thể tồn tại ở trạng thái oxi hóa là: -3, 0, +3, +5.

Asen dạng nguyên tố rất hiếm gặp trong tự nhiên, thƣờng chỉ tìm thấy dƣới dạng oxi hóa hoạt động là asen hóa trị (III) và (V) [5]. Đến thế kỉ XX, Asen ngày càng đƣợc ứng dụng nhiều trong công nghiệp, nông nghiệp, … đƣợc sử dụng để chống mối mọt cho gỗ, sử dụng làm thuốc trừ sâu, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuốc chữa bệnh giang mai, ghẻ…. nên đã để lại sự ô nhiễm nghiêm trọng vào những thập niên cuối thế kỉ XX. Nhiều trƣờng hợp xảy ra ở những nƣớc nghèo, nơi thiếu những cơ sở hạ tầng cần thiết để có thể phản ứng kịp thời trƣớc nguy cơ ô nhiễm Asen gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Ảnh hƣởng của Asen phụ thuộc cả vào tính chất vật lý, hóa học, độc tính, sự thay đổi và sự chuyển hóa sinh học của các dạng Asen, nhƣng các quy định hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào hàm lƣợng Asen để đánh giá ảnh hƣởng của nguyên tố này. Nguồn gốc và các dạng tồn tại của Asen trong tự nhiên Asen đƣợc tìm thấy ở khắp mọi nơi, trong khí quyển, trong nƣớc, trong các mẫu đất, trầm tích cũng nhƣ trong cơ thể sống. Sự có mặt của As là do tự nhiên và do con ngƣời tạo ra. * Nguồn gốc tự nhiên: Asen đƣợc tìm thấy trong các khoáng vật, nó thƣờng tồn tại ở dạng tinh thể, bột, vô định hình hoặc thủy tinh và thƣờng đi cùng với sắt (Fe), lƣu huỳnh (S) tạo thành các khoáng vật nhƣ: Asenopyrite (FeAsS), Orpiment (As2S2), reanga (As4S4)….

Trong nƣớc ngầm As tồn tại do các hiện tƣợng địa chất tự nhiên. Trong nƣớc mặt thì As đƣợc phân bố rộng rãi. Tuy nhiên, nồng độ As trong nƣớc mặt thƣờng thấp hơn nhiều nồng độ As trong nƣớc ngầm, nhƣng ở những nơi gần mỏ khai thác khoáng thì nồng độ As trong nƣớc mặt lại cao hơn. Trong khí quyển thì nguồn gốc tự nhiên đóng góp 60% sự lắng đọng của As trong khí quyển.

Hai nguồn gốc tự nhiên chi phối As trong khí quyển là sự bay ở nhiệt độ thấp (khoảng 26000 tấn/ năm) và hoạt động của núi lửa (khoảng 17000 tấn/năm). * Nguồn gốc Asen do con người tạo ra: Chủ yếu từ các loại thuốc trừ sâu, do các quá trình công nghiệp, khai thác, luyện quặng hay các quá trình đốt cháy các sản phẩm than và nó đƣợc phân bố chủ yếu trong nƣớc mặt cũng nhƣ lắng đọng trong khí quyển. * Dạng tồn tại của Asen trong tự nhiên: Trong không khí tồn tại cả As vô cơ và As hữu cơ, ngƣời ta đã phát hiện sự có mặt của As trong nƣớc mƣa dƣới dạng Asenit là chủ yếu, nó có nguồn gốc từ các hạt bụi mang As2O3. Dạng As hữu cơ chủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com yếu tồn tại ở dạng Metylasin (CH3AsH2) chiếm khoảng 20% tổng lƣợng As có trong không khí.

Vùng không khí đƣợc coi là nhiễm As khi nồng độ của nó vào khoảng nanogam/m3 [6, 7]. As có ở trong nƣớc ngầm và nƣớc mặt với cả dạng vô cơ và hữu cơ. Các hợp chất chủ yếu là metylasonic, dimetylasinic, các Asenit và Asenat. Trong nƣớc bề mặt Asen tồn tại ở dạng Asenat, còn Asenit chỉ tồn tại trong nƣớc ngầm yếm khí.

Dạng tồn tại của Asen phụ thuộc vào độ pH của nƣớc: trong khoảng pH > 3, Asenat tồn tại ở dạng bền là HAsO42- và H2AsO4-. Asenit tồn tại chủ yếu ở dạng phân tử H3AsO3 khi pH < 9, và tồn tại ở dạng ion ở pH > 9. Các dạng Asen hữu cơ nếu có trong nƣớc bề mặt là do các hoạt động của các vi sinh vật nhƣng rất khó định lƣợng. Tính chất lí, hóa học một số hợp chất của Asen 1.

Các hợp chất Asen vô cơ [5] Asen kim loại tồn tại ở một vài dạng thù hình, dạng kim loại và dạng không kim loại. As không tan trong nƣớc, trong không khí ở nhiệt độ thƣờng nó bị oxi hóa rất chậm, còn khi bị đốt nóng mạnh nó bị cháy tạo thành oxit As2O3 màu trắng và có mùi tỏi đặc trƣng. Ở nhiệt độ cao As có khả năng tác dụng với nhiều nguyên tố nhƣ Fe, S… As nguyên tố hay các hợp chất của nó đều rất độc. Một số hợp chất quan trọng của Asen: * Asin (AsH3) [5] Asin là chất khí không màu, có mùi tỏi, ít tan trong nƣớc và rất độc với sức khỏe con ngƣời.

AsH3 có cấu tạo gần giống với PH3 và NH3, góc liên kết AsH là 920. Asin nóng chảy ở nhiệt độ -1160C, sôi ở -620C. Asin thể hiện tính khử rất mạnh, nó có thể bốc cháy trong không khí, khử đƣợc muối của các kim loại nhƣ Cu, Ag,… đến kim loại. AsH3 + 6AgNO3 + 3H2O → 6Ag↓ + H3AsO3 + 6HNO3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác dụng với H2SO4 đặc, nguội: 2AsH3 + 2H2SO4 → 6SO2 + AsSO4(OH) + 3H2O + S  Tác dụng với iot: AsH3 + 4I2 + 4H2O + 11CO32- → AsO43- + 8I- + 11HCO3- Asin tác dụng với bạc đietyl đithiocacbamat (AgDDC) theo phản ứng: AsH3 + 6(C2H5)2NCCSSAg → Ag↓ + 3(C2H5)NCCS + [(C2H5)2NCCS]As Asin tƣơng đối kém bền, khi đốt nóng nó dễ dàng bị phân hủy thành hiđro và As tự do.

Tính chất này đƣợc sử dụng để phát hiện As trong các hợp chất. Asin đƣợc tạo thành khi khử tất cả các hợp chất vô cơ của As bằng hiđro mới sinh: As2O3 + 6Zn + 12HCl → 6ZnCl2 + 2AsH3↑ + 3H2O * Asen (III) oxit As2O3 Dạng oxit của As(III) là As2O3, rất ít tan trong nƣớc (khoảng 2% ở 250C) khi tan trong nƣớc cho dung dịch có tính axit yếu là axit asenơ: As4O6 + 6H2O → 4As(OH)3 As(III) oxit tan dễ dàng trong dung dịch kiềm tạo thành muối asenit và hidroxoasenit: As4O6 + 6NaOH + 3H2O → 3Na[As(OH)4] + Na3AsO3 As(III) oxit thể hiện tính oxy hóa khi tác dụng với O3, H2O2, FeCl3, K2Cr2O7, HNO3, bị oxi hóa đến AsO43-: 3As4O6 + 8HNO3 + 14H2O → 12H3AsO4 + 8NO↑ As(III) oxit rất độc, liều lƣợng gây chết ngƣời là 0,1g.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ