Mở đầu. Phần nảy trình bày tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến các nội dung nghiên cứu của luận án, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết làm cơ sở cho việc đề xuất khung phân tích chung và lựa chọn phương pháp nghiên cứu đề áp dụng trong luận án.
Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày bối cảnh hạn hán ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của nông hộ. Các phương pháp thu thập dữ liệu và vận dụng các phương pháp phân tích cho từng mục tiêu nghiên cứu với các mô hình thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương này trình bày toàn bộ các kết quả nghiên cứu (bảng biểu và hình minh họa). Những thảo luận, nhận xét đánh giá căn cứ vào dẫn liệu khoa học thu được trong quá trình nghiên cứu và đối chiếu với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác thông qua tài liệu tham khảo. Nội dung chính của chương này bao gồm: đánh giá TDBTT nông hộ do tác động hạn hán; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CLTU và KQSK của nông hộ. Kết luận và kiến nghị.
Phần này tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu đã đạt được ứng với các mục tiêu đề ra. Trên cơ sở những phát hiện chính, luận án đề xuất một số kiến nghị đối với các nhà quan lý cũng như những nông hộ dé thực thi các giải pháp đã đề xuất, qua đó giúp nâng cao khả năng thích ứng và cải thiện sinh kế trong điều kiện hạn hán. Đồng thời, phần này của luận án cũng tổng hợp những hạn chế và luận cứ còn chưa rõ của nghiên cứu đề từ đó đề xuất những định hướng nghiên cứu tiếp theo. 10 Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ THUC TIEN 1.
Một số khái niệm về hạn hán và phân loại hạn hán 1. Khái niệm hạn hán Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization -WMO) có hơn 150 khái niệm về hạn hán từ nhiều nhà khoa học với nhiều hướng tiếp cận và nghiên cứu khác nhau (WMO, 2006). Từ điển của Mỹ đã định nghĩa rằng hạn hán là một thời gian không có mưa, đặc biệt là trong suốt một vụ mùa (AHD, 1976). Trần Thục và ctv (2008), cho rằng hạn hán là một giai đoạn thời tiết khô hạn kéo đài bất thường do thiếu hụt lượng mưa gây mất cân bằng nguồn nước, kéo dài đã gây ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực và môi trường khác nhau.
Hạn hán là thảm họa của tự nhiên, do lượng mưa thấp hơn lượng mưa trung bình, có thể diễn ra trong một mùa hoặc kéo dài không đáp ứng được lượng nước cho nhu cầu của con người và môi trường (Sheffield và ctv, 2014; Wilhite và Glantz, 1985). Hạn hán đã gây ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng cây trồng, vật nuôi, nạn đói, bệnh tật và tác động tiêu cực đến môi trường (Durrani và ctv, 2021). Tóm lại, các định nghĩa về hạn hán đều cho rằng hạn hán là do sự thiếu hụt lượng mưa trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến KT-XH và môi trường. Phần loại hạn hán 1.
Chỉ tiêu khô hạn và phân cấp hạn Dé có cơ sở phân cấp han, quản lý hạn, giám sát và cảnh báo sớm về hạn hán, các tác giả đã sử dụng các phương pháp khác nhau như chỉ số khô hạn nhiệt độ-thực vật (Vegetation — Temperature Dryness Index - VICI) (Ngô Dinh Tuan và Ngô Lê An, 2016); chỉ số khô hạn nhiệt 4m Celia Innova ( TTK) (Đặng Quốc Khanh va ctv. 2022); chỉ số khô hạn SPI, Chỉ số K, chỉ số MI và các ngưỡng giá trị của hạn hán (Lê Sâm và Nguyễn Đình Vượng, 2008) ( Phụ lục 1, Bảng 2). Ngoài ra, Nguyễn Hoàng Tuấn và Trương Thanh Cảnh (2022) sử dụng ba chỉ số gồm chỉ số lượng mưa bat thường (RAD, chỉ số chuẩn hóa lượng mưa (SPI), chỉ số âm (MI) dé xác định phân cấp hạn (hạn nặng, hạn nhẹ. Chi số hạn SI; SPI; Sa.I; SWSI; MI; K được tính toán từ lượng mưa, nhiệt độ, giờ nắng, bốc hơi của các trạm quan trắc tại khu vực nghiên cứu sẽ phân cấp hạn dé phù hợp với mục tiêu nghiên cứu (Nguyễn Quang Kim, 2005).
Luận án sử dụng chỉ 11 số MI và K dé phan cap han nhe va han nang. Han han nhẹ thường diễn ra khi có sự thiếu hụt nguồn nước nhưng vẫn còn sự cung cấp một cách tương đối. Việc quản lý tiết kiệm nước và chuẩn bị các biện pháp dự phòng có thể giúp giảm thiểu tác động của hạn hán đối với các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt. Do đó, cần sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước, quản lý đất đai hiệu quả, và sử dụng các phương pháp canh tác có hiệu suất cao hơn dé tối ưu hóa sự sử dụng nước.
Trong khi đó, hạn hán nặng là một tình trạng cảnh báo nghiêm trọng hơn, thường xuất hiện khi nguồn cung nước giảm đáng kế hoặc hoàn toàn cạn kiệt. Trong trường hợp này, việc tiết kiệm nước trở nên cực kỳ cần thiết, và các biện pháp dự phòng phải được triển khai ngay lập tức đề giữ cho hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt cho cộng đồng không bị ảnh hưởng quá nặng nề. Các biện pháp có thể bao gồm hạn chế việc sử dụng nước, ứng dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước hơn, đồng thời, cần phải có các biện pháp cấp bách như vận chuyên nước từ các nguồn khác và phân phối nước theo ưu tiên dé đảm bảo an toàn nước uống và sử dung cho sinh hoạt cơ bản. Phần loại hạn hán WMO (2006) đã phân loại hạn hán thành 4 loại theo sự đánh giá và tổng hợp của nhiều nghiên cứu trên thế giới ( Phu lục 1, Hình 1.
Đây là một loại hạn được đánh giá có một thời kỳ dài mưa ít hơn trung bình nhiều năm; (2) Han thiy văn: là hiện tượng suy giảm mặt nước do dòng chảy thấp, hay do sự bốc hơi của hồ chứa, hồ nước, sông. Có thể nói hạn thủy văn là khoản thời gian mà dòng chảy không đủ cung cấp nhu cầu sử dụng nước (Iglesias va ctv, 2018; Nguyễn Nam Thành và ctv, 2019); (3) Han nông nghiệp: là hiện tượng thiêu hụt nước tưới cho cây trồng do khí tượng hay thủy văn. Nước chiếm 35% trong thành phan cấu tao của đất và duy trì độ âm của đất, nếu duy trì độ âm tốt thì hạn chế hiện tượng hạn nông nghiệp. Nếu quá trình lưu giữ thất bại, độ âm khan hiếm thì quá trình hạn hán sẽ tác động rất lớn đối với cây trồng và năng suất cây trồng: (4) Han KT-XH: là sự thất bại liên kết của hệ thống quản lý tài nguyên nước với nhu cầu, vì thế hạn hán gan liền với các nhu cầu của sự phát triển kinh tế (Brewer và Heim Jr., 2011; Abraham va ctv, 2016; Iglesias va ctv, 2018).
Tác động của hạn hán Hạn hán tác động đến môi trường, hủy hoại các loài thực vật, động vật, quần cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, cháy rừng và xói lở đất. Các tác 12 động này có thé kéo dai và khó khăn đề khắc phục. Mức độ khô hạn có thé de doa sự an toàn của vật nuôi chăn thả và bãi cỏ, bởi vì thiếu nước làm tăng nồng độ nitrat và axit prussic và gây nguy hiểm cho sức khỏe của chúng. Hạn hán đã tác động đến sự vận hành của nhà máy thuỷ điện, cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và điều tiết nước cho SXNN (WMO, 2006), là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí là chiến tranh do xung đột nguồn nước (Haied và ctv, 2017).
Một vấn đề khác, xâm nhập của các loài xâm lấn như co đại và côn trùng, gây thiệt hại cho mùa mang và khó có thê loại bỏ khi hạn xuất hiện (Phụ lục 1, Hình 2). Trên thế giới, hơn 1/3 đất đai bị hạn hán và ảnh hưởng tới 1/3 dân số, đồng thời tác động tới 50% số gia súc toàn cầu và 44% hệ thống sinh thái trồng trọt của thế giới (Ngô Thanh Sơn và ctv, 2018). Tổng quan về nghiên cứu hạn hán 1.1 Nghiên cứu về hạn hán trên thế giới Hạn hán được nghiên cứu, đánh giá và dự báo từ nhiều quốc gia, châu lục khác nhau. Nghiên cứu của Garnier (2018) đã cho thấy hạn hán được nghiên cứu từ rất xa xưa ở khu vực Châu Âu và Địa Trung Hải, được ghi lại thông qua các văn bản cô xưa và tạp chí cổ đại.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học và công nghệ nghiên cứu về han hán đã được phân tích chuyên sâu và trở nên phô biến. Nghiên cứu han han theo hướng định tính về sự tác động của nó đến SXNN ở Nam Phi (Archer và ctv, 2022). Nghiên cứu tại Ấn Độ bằng phương pháp thống kê mô tả những thiệt hại do hạn hán gây ra (Bandyopadhyay và ctv, 2020), tại Nga hạn hán ảnh hưởng đến an ninh lương thực và nông nghiệp (Hunt và ctv, 2021). Do đó, hạn hán được xem là một trong những thiên tai khắc nghiệt nhất trên thế giới, gây thiệt hại hàng năm từ 6 - 8 tỷ đô la (Wilhite, 2000).
Theo thống kê của tổ chức Oxfam cho rằng ở Châu Phi phải đối mặt với nạn đói vì hạn hán, ảnh hưởng đến hơn 10 triệu người (Bahta va ctv, 2016), và một lượng lớn dân số trên thế giới sé chịu cảnh đói khát (WMO, 2006). Trong hơn 30 năm trở lại đây, hạn đã tác động đến cuộc sông của 1,3 tỷ người và 53 tỷ đô của vùng châu A — Thái Bình Dương. Điển hình bang California (Mỹ) đã trải qua đợt hạn hán tôi tệ nhất trong lich sử trong giai đoạn 2012-2015. Những tác động bat lợi của hạn đã ảnh hưởng đến nông nghiệp, nông thôn thiếu nước sản xuất và gây cháy rừng (Swain, 2015).
Han hán xuất hiện ở An Độ không chi gây căng thắng về nguồn nước mà còn ảnh hưởng đến tình hình SXNN và một số lĩnh vực 13 khác. Mặc dù, chính phủ đã xây dựng nhiều CLTU với hạn hán để giảm thiệt hại nhưng sự tái diễn của hạn ba năm một lần là một thách thức lớn (Bandyopadhyay và ctv, 2020). Argentina (Nam Mỹ) hạn hán đã ảnh hưởng 6,5 triệu ha thiếu nước sản xuất, 550.000 người và 7.825 trang trại không đủ nước để tưới tiêu và sinh hoạt (Abraham va ctv, 2016).