Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát tại Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Tuấn Dũng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Doãn Kế Bôn, tại Trường Đại học Ngoại thương (Hà Nội, 2021), thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9310106).

Về tính cấp thiết, lạm phát là một trong những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cốt lõi, chi phối trực tiếp đến việc hoạch định chính sách và sự ổn định kinh tế - xã hội. Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11 năm 2007, nền kinh tế ghi nhận độ mở ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, sự hội nhập này cũng khiến Việt Nam phải đối mặt với nhiều biến động kinh tế từ thị trường quốc tế. Thực tế giai đoạn 2007 - 2011 chứng kiến sự bất ổn lớn của lạm phát: tăng vọt lên 12,63% năm 2007, đạt đỉnh 19,98% năm 2008, giảm xuống 6,5% năm 2009, rồi lại tăng lên 11,9% năm 2010 và 18,1% năm 2011. Trước diễn biến phức tạp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 nhằm kiềm chế lạm phát, đưa chỉ số này giảm dần xuống 6,8% năm 2012 và 6,6% năm 2013. Giai đoạn 2014 - 2019, lạm phát duy trì ổn định dưới 4% (năm 2019 đạt 2,79%), và năm 2020 đạt 3,23% bất chấp tác động của đại dịch COVID-19. Do đó, việc định lượng tác động của các kênh truyền dẫn hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát và xây dựng mô hình dự báo là đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh mới.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến lạm phát, thực hiện dự báo lạm phát và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm bốn nội dung:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về các yếu tố quyết định lạm phát;
  2. Phân tích thực trạng lạm phát và các yếu tố quyết định lạm phát tại Việt Nam;
  3. Dự báo lạm phát của Việt Nam đến hết quý 4 năm 2021;
  4. Đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập đến lạm phát ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến lạm phát.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến lạm phát trong mối tương quan với các yếu tố vĩ mô khác và thực hiện dự báo lạm phát.
  • Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khi gia nhập WTO (2007) đến năm 2020; các quan điểm, định hướng và giải pháp đề xuất định hình đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về lạm phát và bản chất lạm phát

  • Nghiên cứu trong nước: Đặng Văn Thanh (2000) và Ngô Trí Long (2000) đánh giá định tính về thực trạng giá cả và đề xuất giải pháp kiểm soát lạm phát; Nguyễn Cao Đức (2006) phân tích các yếu tố quyết định lạm phát dựa trên tiếp cận tiền tệ; Nguyễn Đại Lai (2000) nghiên cứu kiểm soát lạm phát trong chiến lược phát triển ngành ngân hàng 2001 - 2010; loạt công trình của Nguyễn Văn Công (2001, 2005) bàn về xử lý lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng, nhận diện lạm phát và xác định tỷ lệ lạm phát tối ưu tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu quốc tế: Bruno (1995) phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát, tăng trưởng và kiểm soát tiền tệ; Commander (1991) khảo sát quản lý lạm phát tại các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chuyển đổi; Dhakal nghiên cứu kinh nghiệm lạm phát tại 6 quốc gia đang phát triển; Friedman (1970) khẳng định bản chất tiền tệ của lạm phát; Ghosh và Phillips (1998), Senhadji (2000) xác định ngưỡng tác động tiêu cực của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế.

Nhóm 2: Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát và mô hình hóa đường Phillips Cơ sở lý thuyết khởi nguồn từ đường Phillips ban đầu (Phillips, 1958; Lipsey, 1950) về sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp, được Friedman (1960) và Phelps (1967) phát triển với việc đưa kỳ vọng thích ứng vào để phân biệt đường Phillips ngắn hạn và dài hạn. Sau sự chỉ trích của Sargent (1971) và Lucas (1972), mô hình đường Phillips được điều chỉnh bởi Fischer (1977) và Taylor (1979) về sự cứng nhắc danh nghĩa, Calvo (1983) về định giá ngẫu nhiên, và Gali - Gertler (1999) đưa yếu tố lao động vào để thiết lập đường Phillips Tân Keynes (NKPC). Các nghiên cứu của Woodford (2003) và Christiano cùng cộng sự (2005) bổ sung thêm các giá trị trễ của lạm phát quá khứ vào NKPC. Về mặt thực nghiệm, Akinboade cùng cộng sự (2004) tại Nam Phi, Farhad Taghizadeh-Hesary và Naoyuki Yoshino (2016) phân tích tác động của giá dầu đến CPI bằng mô hình SVAR. Tại Việt Nam, Võ Trí Thành cùng cộng sự (2001) dùng mô hình VAR với ECM khẳng định tính bị động của chính sách tiền tệ; nghiên cứu của IMF (2006) ghi nhận vai trò của cung tiền và tín dụng từ năm 2002; Trần Thị Thùy Anh (2014) khảo sát định tính quan hệ cung tiền - lạm phát 2008 - 2013; Phan Lê Trung và Phạm Lê Thông (2014) sử dụng mô hình VECM giai đoạn 1992 - 2012 chứng minh tác động mạnh của lạm phát kỳ vọng và tỷ giá.

Nhóm 3: Các nghiên cứu về yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến lạm phát Chhibber (1991) mô hình hóa lạm phát hàng hóa thương mại và phi thương mại theo tiếp cận PPP tại Châu Phi; Lin và Papi (1997) tại Thổ Nhĩ Kỳ; Laryea và Sumaila (2001) tại Tanzania; Leheyda (2005) tại Ukraine; Jongwanich và Park (2008) nghiên cứu 9 quốc gia Châu Á chỉ ra áp lực dư cầu và kỳ vọng giai đoạn 2007 - 2008. Bodart (1996) xem xét chế độ tỷ giá tác động đến lạm phát; Ito và Sato (2007) phân tích cơ chế truyền dẫn tỷ giá tại Châu Á sau khủng hoảng 1997; Byung-Yeon Kim (2001) khảo sát Ba Lan giai đoạn 1990 - 1999; nghiên cứu của IMF (2003) tại Việt Nam giai đoạn 1995 - 2003 chỉ ra biến động nội tại giải thích lạm phát trong khi tỷ giá ít tác động trực tiếp lên CPI. Phạm Thế Anh (2009) phân tích 4 nhóm yếu tố (tổng cầu, cú sốc cung, cứng nhắc giá cả, thể chế); Lê Việt Hùng và Wade D. Pfau (2008) phân tích cơ chế truyền dẫn tiền tệ bằng VAR; Vương Thị Thảo Bình (2009) dùng OLS chỉ ra tương quan dương của chênh lệch sản lượng; Phạm Thị Thu Trang (2009) sử dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn; Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) áp dụng VECM chỉ ra áp lực phá giá và yếu tố nội địa.

Nhóm 4: Các nghiên cứu về dự báo lạm phát Giannoni và Woodford (2003) dùng mô hình VAR không hạn chế; Antoni Espasa và Rebeca Albacete (2004) dùng VECM dự báo tại EU; Tao Sun (2004) dùng mô hình GUM cho Thái Lan; Demers và Champlain (2005) dùng đường Phillips cho Canada; Petra Gerlach-Kristen (2006) dự báo tại Thụy Điển; Melihovs và Zasova (2007) dùng đường Phillips lai tại Latvia; Stock và Watson (1999, 2007, 2008) ứng dụng các mô hình AR, IMA, UC-SV, NKPC tại Mỹ; Barigozzi và Capasso (2008) dùng DF-GARCH; Zochowski và Bialowolski (2011) dùng mô hình Markov MSI(3)-AR(2) tại Ba Lan; Doguwa và Alade (2013) dùng SARIMA/SARIMAX tại Nigeria; Kelikume và Salami (2014) so sánh ARIMA và VAR; Luisa cùng cộng sự (2014) dùng mô hình bán cấu trúc cho Rwanda; Hassain Abusaaq (2015) dùng ARIMA dự báo cho Saudi Arabia; Abdih cùng cộng sự (2016) tiếp cận từ dưới lên tại Mỹ. Tại Việt Nam, Nguyễn Đức Độ (2015, 2016) xây dựng mô hình dự báo ngắn hạn trên các biến tiền tệ và chênh lệch thành thị - cả nước; Vương Quốc Duy và Huỳnh Hải Âu (2014) ứng dụng ARIMA.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết:

  1. Hầu hết các công trình trước đây chỉ thực hiện đơn lẻ một mục tiêu: hoặc phân tích nhân tố ảnh hưởng, hoặc dự báo lạm phát. Luận án kết hợp đồng thời cả hai khía cạnh: vừa đánh giá tác động của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế, vừa dự báo lạm phát trong cả ngắn hạn và dài hạn.
  2. Các nghiên cứu trước chủ yếu xem xét các biến số kinh tế vĩ mô chung hoặc chỉ kiểm định một vài yếu tố riêng lẻ, làm thiếu hụt các kênh truyền dẫn hội nhập. Luận án tích hợp đầy đủ các biến số hội nhập (tỷ giá, giá nhập khẩu, giá dầu thế giới) vào hệ thống phân tích.
  3. Dữ liệu thực nghiệm của các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây đã cũ, chưa cập nhật giai đoạn lạm phát sau khủng hoảng 2011 - 2012 và giai đoạn ổn định sau đó. Luận án cập nhật chuỗi số liệu đầy đủ giai đoạn 2007 - 2020.
  4. Các kỹ thuật dự báo trước đây chủ yếu dựa trên ARIMA, GARCH, Markov hoặc hồi quy tuyến tính với sai số lớn và chỉ áp dụng trong ngắn hạn. Luận án sử dụng mô hình VECM để khắc phục hạn chế này, nâng cao độ tin cậy của dự báo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án tổng quan các lý thuyết nền tảng về lạm phát:

  • Quan điểm tiền tệ của Các Mác: Lạm phát là hiện tượng tràn ngập các kênh lưu thông những tờ giấy bạc thừa, làm tiền tệ mất giá và giá cả hàng hóa tăng vọt.
  • Quan điểm trường phái tiền tệ (Milton Friedman): "Lạm phát ở đâu và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ", phản ánh mức tăng nhanh và kéo dài của mức giá chung do cung tiền tăng quá mức.
  • Quan điểm trường phái Keynes: Lạm phát do các cú sốc tổng cầu vượt quá tổng cung tiềm năng tại mức toàn dụng lao động (lạm phát cầu kéo, dựa trên mô hình AS-AD với $AD = C + I + G + NX$) hoặc do các cú sốc chi phí đầu vào đẩy giá lên (lạm phát chi phí đẩy).
  • Lý thuyết sức mua tương đương (PPP) và Đường Phillips Tân Keynes (NKPC): Giải thích mối quan hệ giữa biến động tỷ giá, giá hàng hóa ngoại thương và kỳ vọng lạm phát.

Về đo lường, luận án phân tích hai công cụ chính:

  • Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Tính theo công thức chỉ số bình quân gia quyền Laspeyres cố định giỏ hàng hóa ở kỳ gốc: $$CPI_t = \frac{\sum (p_{it} \cdot Q_{i0})}{\sum (p_{i0} \cdot Q_{i0})} \times 100$$ Tác giả nêu rõ quá trình điều chỉnh rổ hàng hóa tại Việt Nam qua các thời kỳ: 1995 - 2000 (10 nhóm hàng), 2009 - 2014 (572 mặt hàng), 2015 - 2020 (654 mặt hàng). Đồng thời, chỉ rõ 3 hạn chế nội tại của CPI gồm độ lệch thay thế, độ lệch hàng hóa mới và độ lệch chất lượng.
  • Chỉ số điều chỉnh GDP ($D_{GDP}$): Phản ánh mức giá trung bình của tất cả hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước: $$D_t = \frac{GDP_{\text{danh nghĩa}}}{GDP_{\text{thực tế}}} \times 100$$ Chỉ số này bị hạn chế do không phản ánh giá hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng nội địa và hàng hóa trung gian, do đó CPI được lựa chọn làm thước đo lường lạm phát trong mô hình định lượng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp quy nạp và diễn giải; phương pháp thống kê mô tả nhằm đánh giá thực trạng kinh tế vĩ mô và diễn biến lạm phát qua các giai đoạn.
  • Phương pháp định lượng: Ứng dụng mô hình Vector Hiệu chỉnh Sai số (VECM) được phát triển từ mô hình tự hồi quy véc tơ VAR($p$): $$Y_t = A_1 Y_{t-1} + A_2 Y_{t-2} + \dots + A_p Y_{t-p} + U_t$$ Dạng biến đổi VECM: $$\Delta Y_t = \Pi Y_{t-1} + \sum_{i=1}^{p-1} C_i \Delta Y_{t-i} + U_t$$ Trong đó: $\Pi = - (I - A_1 - A_2 - \dots - A_p) = \alpha \beta'$ (với $\alpha$ là ma trận hệ số điều chỉnh tốc độ hiệu chỉnh sai số, $\beta$ là ma trận các véc tơ đồng tích hợp dài hạn); $C_i = -\sum_{j=i+1}^p A_j$; $p$ là độ trễ tối ưu; $U_t$ là phần dư ngẫu nhiên.

Hàm mục tiêu nghiên cứu lạm phát được thiết lập dạng: $$CPI_t = F(GDP_t, M2_t, ER_t, IR_t, POIL_t, PI_t)$$

Ký hiệu biến Tên biến số Ý nghĩa kinh tế và vai trò trong mô hình
$CPI_t$ Chỉ số giá tiêu dùng Đại diện cho mức giá chung và tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
$GDP_t$ Tổng sản phẩm quốc nội Đại diện cho mức tăng trưởng kinh tế và áp lực tổng cầu
$M2_t$ Cung tiền mở rộng Đại diện cho quy mô cung tiền và chính sách tiền tệ
$ER_t$ Tỷ giá chính thức (VND/USD) Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế (thị trường ngoại hối)
$IR_t$ Lãi suất tiền gửi / cho vay Đại diện cho chi phí vốn và điều hành tiền tệ
$POIL_t$ Giá dầu thế giới Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế (cú sốc chi phí năng lượng toàn cầu)
$PI_t$ Chỉ số giá nhập khẩu Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế (kênh truyền dẫn giá ngoại thương)

Quy trình phân tích định lượng bao gồm: Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu (kiểm định nghiệm đơn vị), xác định độ trễ tối ưu của mô hình, kiểm định đồng liên kết Johansen, ước lượng VECM, kiểm định nhân quả Granger, kiểm tra tính ổn định của mô hình, phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Functions), phân rã phương sai (Variance Decomposition) và tiến hành dự báo ngoài mẫu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 chủ đề: bản chất lạm phát, các yếu tố tác động đến lạm phát, các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến lạm phát và các phương pháp dự báo lạm phát. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam thường tiếp cận đơn lẻ (hoặc chỉ phân tích định tính, hoặc chỉ mô hình hóa chuỗi thời gian đơn biến), sử dụng chuỗi số liệu cũ và chưa tích hợp đầy đủ các kênh truyền dẫn hội nhập (tỷ giá, giá nhập khẩu, giá dầu) trong cùng một mô hình VECM vừa phân tích vừa dự báo. Từ đó, chương 1 xác lập 4 khoảng trống nghiên cứu làm tiền đề cho luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về lạm phát và hội nhập kinh tế quốc tế:

  • Làm rõ các khái niệm, cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình hội nhập.
  • Phân loại 4 mức độ lạm phát: lạm phát ỳ (vài phần trăm), lạm phát vừa phải (dưới hai con số, thấp hơn tốc độ tăng trưởng), lạm phát phi mã (hai đến ba con số, như giai đoạn 1985 - 1988 tại Việt Nam) và siêu lạm phát (trên ba con số, theo tiêu chuẩn Phillip Cagan là tăng trên 50%/tháng kéo dài).
  • Trình bày chi tiết cơ chế lạm phát cầu kéo, chi phí đẩy, phân tích ưu nhược điểm của hai phương pháp đo lường CPI và $D_{GDP}$.
  • So sánh quan điểm trường phái Keynes và trường phái Tiền tệ trong việc giải thích biến động giá cả, từ đó thiết lập mô hình lý thuyết tổng quát kết hợp các yếu tố vĩ mô nội địa và các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ ước lượng định lượng.

Chương 3: Thực trạng lạm phát và các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam

Chương 3 phân tích thực nghiệm bối cảnh kinh tế vĩ mô và diễn biến các biến số tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2020:

  • Bối cảnh: Tăng trưởng kinh tế sau đổi mới 1986 đạt mức cao (trên 9% giai đoạn 1995 - 1996), giai đoạn 2000 - 2007 tăng trưởng bình quân 7%/năm trong khi lạm phát duy trì 5,5%/năm. Cột mốc gia nhập WTO năm 2007 đánh dấu sự mở cửa mạnh mẽ nhưng cũng kéo theo bất ổn giá cả.
  • Diễn biến lạm phát: Lạm phát tăng mạnh năm 2007 (12,63%) và 2008 (19,98%), giảm về 6,5% năm 2009, bùng phát trở lại năm 2010 (11,9%) và 2011 (18,1%). Sau Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011, lạm phát giảm xuống 6,8% (2012), 6,6% (2013) và duy trì dưới 4% giai đoạn 2014 - 2019 (năm 2019 đạt 2,79%). Năm 2020 lạm phát là 3,23% (tăng trưởng GDP đạt 2,91%), 6 tháng đầu năm 2021 lạm phát ở mức 1,47% (tăng trưởng đạt 5,64%).
  • Thực trạng các yếu tố hội nhập: Khảo sát chi tiết hoạt động xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); sự biến động của tỷ giá VND/USD; mặt bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng; biến động giá dầu thế giới; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa và tốc độ tăng trưởng GDP theo quý.

Chương 4: Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát tại Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay và một số dự báo

Chương 4 là trọng tâm định lượng của luận án, trình bày kết quả kiểm định và ước lượng mô hình VECM với chuỗi dữ liệu quý:

  • Kiểm định tính dừng cho thấy các chuỗi dữ liệu đều dừng ở sai phân bậc nhất $I(1)$.
  • Kiểm định độ trễ tối ưu và kiểm định đồng liên kết Johansen xác định tồn tại 3 quan hệ đồng tích hợp dài hạn giữa lạm phát ($CPI$) và các biến số: tăng trưởng ($GDP$), cung tiền ($M2$), tỷ giá ($ER$), lãi suất ($IR$), giá dầu ($POIL$) và chỉ số giá nhập khẩu ($PI$).
  • Kết quả ước lượng dài hạn: Các biến số $GDP$, $M2$, $ER$, $PI$ và $POIL$ có tác động cùng chiều (dương) lên lạm phát, trong khi biến lãi suất $IR$ có tác động ngược chiều (âm). Trong đó, tác động của tăng trưởng kinh tế ($GDP$), tỷ giá ($ER$) và chỉ số giá nhập khẩu ($PI$) là mạnh nhất; tác động của giá dầu thế giới ($POIL$) là yếu nhất.
  • Cơ chế hiệu chỉnh sai số:
    • Ở quan hệ đồng tích hợp thứ nhất: cơ chế hiệu chỉnh sai số chỉ tồn tại đối với biến lãi suất ($IR$) và chỉ số giá nhập khẩu ($PI$).
    • Ở quan hệ đồng tích hợp thứ hai: duy nhất biến tỷ giá ($ER$) có phản ứng điều chỉnh.
    • Ở quan hệ đồng tích hợp thứ ba: toàn bộ các biến số trong mô hình đều có phản ứng điều chỉnh nhằm loại bỏ sự mất cân bằng dài hạn sau mỗi chu kỳ.
  • Phân rã phương sai và hàm phản ứng xung: Cú sốc của chính lạm phát đóng vai trò chi phối lớn nhất, giải thích 95,7% biến động lạm phát ở kỳ thứ 2 và giảm dần xuống còn 33,80% ở kỳ thứ 20. Tiếp theo, các cú sốc từ tỷ giá ($ER$) và tăng trưởng kinh tế ($GDP$) là những yếu tố có mức độ đóng góp lớn nhất tới biến động của lạm phát.
  • Kết quả dự báo: Luận án thực hiện dự báo chỉ số $CPI$ từ quý 1/2020 đến quý 4/2021 với kết quả cụ thể:
Giai đoạn dự báo Chỉ số CPI dự báo (%)
Quý 1 năm 2020 101,29
Quý 2 năm 2020 100,75
Quý 3 năm 2020 100,69
Quý 4 năm 2020 101,27
Quý 1 năm 2021 100,72
Quý 2 năm 2021 100,66
Quý 3 và Quý 4 năm 2021 100,79

Chương 5: Kiến nghị và một số giải pháp tác động đến các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế để kiểm soát lạm phát tại Việt Nam

Chương 5 phân tích bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế sau đại dịch COVID-19, xác định quan điểm kiểm soát lạm phát chủ động, linh hoạt gắn với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Tác giả đề xuất nhóm giải pháp điều hành tập trung vào các kênh hội nhập:

  • Điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt nhằm giảm thiểu sự truyền dẫn lạm phát nhập khẩu;
  • Kiểm soát nhập khẩu và theo dõi biến động giá hàng hóa thế giới (đặc biệt là giá nguyên liệu, giá dầu);
  • Phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ (lãi suất, cung tiền M2) và chính sách tài khóa nhằm kiểm soát kỳ vọng lạm phát và hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài;
  • Cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao hiệu quả đầu tư công để giảm thiểu sức ép chi phí trong trung và dài hạn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa, phân tích và đánh giá toàn diện các lý thuyết kinh tế và công trình thực nghiệm về lạm phát, các nhân tố quyết định lạm phát và các mô hình dự báo lạm phát.
  2. Xây dựng mô hình phân tích định lượng kết hợp các yếu tố vĩ mô nội địa với các biến số đại diện cho hội nhập kinh tế quốc tế tại một nền kinh tế chuyển đổi có độ mở cao như Việt Nam.
  3. Củng cố và hoàn thiện khung phương pháp luận ứng dụng mô hình VECM trong việc phân tích đồng thời tác động dài hạn, ngắn hạn và dự báo lạm phát.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Khẳng định quan hệ dài hạn: Chứng minh sự tồn tại của mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn giữa lạm phát ($CPI$) với 6 biến số ($GDP$, $M2$, $ER$, $IR$, $PI$, $POIL$). Ngoại trừ lãi suất có tác động ngược chiều, các biến còn lại tác động cùng chiều; trong đó $GDP$, tỷ giá và giá nhập khẩu có tác động mạnh nhất, giá dầu thế giới có tác động yếu nhất.
  2. Làm rõ cơ chế hiệu chỉnh sai số: Xác định cụ thể phản ứng của từng biến số trong 3 mối quan hệ đồng tích hợp, chỉ ra cơ chế tự cân bằng của toàn bộ hệ thống các biến số ở quan hệ thứ ba sau các cú sốc mất cân bằng.
  3. Định lượng mức độ lan truyền cú sốc: Xác định biến động lạm phát tại Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn nhất từ quán tính của chính nó (chiếm 95,7% ở kỳ thứ 2 và duy trì 33,80% ở kỳ thứ 20), tiếp sau đó là tác động lan truyền từ các cú sốc tỷ giá và tăng trưởng GDP.
  4. Cung cấp chuỗi số liệu dự báo cụ thể: Đưa ra dự báo định lượng chỉ số CPI theo quý từ quý 1/2020 đến quý 4/2021 với mức độ tin cậy cao.
  5. Đề xuất giải pháp chính sách: Cung cấp cơ sở thực chứng để Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá và quản lý giá nhập khẩu nhằm kiểm soát lạm phát mục tiêu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản luận án, một số giới hạn và định hướng mở rộng gồm:

  • Về phạm vi biến số: Mô hình tập trung vào 6 biến số vĩ mô và hội nhập cốt lõi ($GDP$, $M2$, $ER$, $IR$, $POIL$, $PI$); các nghiên cứu tiếp theo có thể xem xét mở rộng thêm các kênh truyền dẫn khác như dòng vốn FDI chi tiết, cán cân thanh toán hoặc các cấu phần giá năng lượng thay thế.
  • Về chuỗi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở năm 2020; các nghiên cứu trong tương lai có thể cập nhật chuỗi số liệu sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch COVID-19 để kiểm tra tính ổn định của các véc tơ đồng tích hợp trong dài hạn.
  • Về phương pháp dự báo: Mô hình VECM được áp dụng cho dự báo trung và dài hạn; có thể kết hợp so sánh với các mô hình kinh tế lượng phi tuyến hoặc mô hình bán cấu trúc để đánh giá độ nhạy của các cú sốc ngắn hạn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với:

  • Cơ quan hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Tham khảo cơ chế truyền dẫn của tỷ giá, giá nhập khẩu và cung tiền tới CPI; tham khảo cơ chế hiệu chỉnh sai số và các kết quả phân rã phương sai để chủ động đưa ra các can thiệp chính sách tiền tệ và tỷ giá phù hợp, tránh phản ứng giật cục trước các cú sốc ngắn hạn.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế phát triển: Tham khảo quy trình xây dựng, kiểm định và ước lượng hệ mô hình VAR/VECM nhiều biến; phương pháp xử lý dữ liệu chuỗi thời gian kinh tế vĩ mô và kỹ thuật phân tích hàm phản ứng xung, phân rã phương sai trong dự báo.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình kinh tế lượng chính được tác giả sử dụng để lượng hóa tác động của các yếu tố hội nhập tới lạm phát là gì?
Luận án sử dụng mô hình Vector Hiệu chỉnh Sai số (VECM) với 7 biến số: $CPI_t = F(GDP_t, M2_t, ER_t, IR_t, POIL_t, PI_t)$, được chuyển hóa từ hệ mô hình tự hồi quy véc tơ VAR($p$) có kiểm định đồng liên kết Johansen.

2. Biến số nào có tác động cùng chiều và biến số nào có tác động ngược chiều tới lạm phát trong dài hạn?
Trong mối quan hệ dài hạn, các biến tăng trưởng ($GDP$), cung tiền ($M2$), tỷ giá ($ER$), chỉ số giá nhập khẩu ($PI$) và giá dầu thế giới ($POIL$) đều có tác động cùng chiều (dương) lên lạm phát. Duy nhất biến lãi suất ($IR$) có tác động ngược chiều (âm) lên lạm phát.

3. Trong các cú sốc từ các biến số, yếu tố nào đóng góp lớn nhất vào sự biến động của lạm phát tại Việt Nam?
Kết quả phân rã phương sai chỉ ra lạm phát chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi chính cú sốc của nó (quán tính lạm phát), chiếm 95,7% ở kỳ thứ 2 và duy trì 33,80% ở kỳ thứ 20. Trong các biến ngoại sinh, cú sốc của tỷ giá ($ER$) và tăng trưởng kinh tế ($GDP$) là những biến có mức độ tác động lớn nhất.

4. Kết quả dự báo chỉ số CPI theo quý cho giai đoạn 2020 - 2021 được luận án đưa ra như thế nào?
Chỉ số CPI dự báo lần lượt đạt: quý 1/2020 là 101,29%; quý 2/2020 là 100,75%; quý 3/2020 là 100,69%; quý 4/2020 là 101,27%; quý 1/2021 là 100,72%; quý 2/2021 là 100,66%; và các quý tiếp theo của năm 2021 đạt khoảng 100,79%.

5. Luận án chỉ ra những hạn chế chính của phương pháp đo lường lạm phát bằng CPI là gì?
Luận án chỉ rõ 3 sai lệch cơ bản của CPI: không phản ánh được độ lệch thay thế của người tiêu dùng khi giá cả tương đối biến động; không phản ánh kịp thời sự xuất hiện của các hàng hóa mới; và không tách biệt được sự thay đổi của giá do nâng cao chất lượng hàng hóa.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Hoàng Tuấn Dũng đã phân tích và định lượng thành công ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2020 thông qua mô hình VECM. Kết quả thực nghiệm khẳng định vai trò chi phối của quán tính lạm phát, tỷ giá, giá nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế trong việc hình thành mặt bằng giá cả dài hạn. Công trình cũng cung cấp các dự báo chỉ số CPI giai đoạn 2020 - 2021 cùng hệ thống giải pháp điều hành vĩ mô có căn cứ khoa học, hỗ trợ công tác kiểm soát lạm phát và duy trì ổn định kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.