Tổng quan nghiên cứu

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn biến động mạnh với áp lực lạm phát gia tăng, đỉnh điểm lên tới gần 19% vào năm 2011, cùng tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 bình quân đạt 32,2% trong giai đoạn 2002 - 2009. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng khi cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt sâu, thị trường ngoại hối tồn tại tình trạng hai tỷ giá với khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và thị trường tự do có thời điểm lên đến 7% - 8%.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng điều hành tỷ giá hối đoái, lượng hóa chỉ số tỷ giá thực hiệu lực và kiểm định mối quan hệ giữa biến động tỷ giá với cán cân thương mại, lạm phát và tăng trưởng GDP. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm thị trường ngoại hối Việt Nam trong mối tương quan với 10 đối tác thương mại trọng yếu, trải dài qua chuỗi thời gian từ quý 1 năm 1999 đến quý 4 năm 2011, đồng thời đưa ra dự báo cho năm 2012.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc xây dựng luận cứ khoa học thực nghiệm giúp cơ quan quản lý tiền tệ xác định mức độ lệch giá của đồng Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống chỉ báo định lượng phục vụ mục tiêu tái lập cân bằng kinh tế vĩ mô, nâng cao năng lực cạnh tranh ngoại thương và duy trì quy mô dự trữ ngoại hối quốc gia đạt ngưỡng an toàn từ 3 đến 4 tháng nhập khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên bốn trụ cột lý thuyết tài chính quốc tế:

  • Thuyết ngang giá sức mua (PPP): Giải thích mối quan hệ dài hạn giữa mức chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia và biến động tỷ giá hối đoái danh nghĩa, làm cơ sở xác định xu hướng điều chỉnh của đồng tiền.
  • Điều kiện Marshall - Lerner: Khẳng định việc phá giá tiền tệ chỉ cải thiện cán cân thương mại khi tổng độ co giãn của cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu lớn hơn 1 theo giá trị tuyệt đối.
  • Biểu đồ cân bằng kinh tế vĩ mô Swan (Swan Diagram) kết hợp nguyên tắc Tinbergen: Phân tích sự kết hợp giữa chính sách thay đổi chi tiêu và chính sách chuyển dịch chi tiêu nhằm đạt đồng thời trạng thái cân bằng đối nội (toàn dụng lao động, kiểm soát lạm phát) và cân bằng đối ngoại (cân bằng tài khoản vãng lai).
  • Hệ thống khái niệm tỷ giá: Phân biệt rõ giữa tỷ giá danh nghĩa song phương, tỷ giá thực song phương (RER) và tỷ giá thực hiệu lực đa phương (REER) có trọng số thương mại.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 51 quan sát theo chu kỳ quý, kéo dài liên tục từ quý 1 năm 1999 đến quý 3 năm 2011. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để xác lập rổ tiền tệ đại diện gồm 10 quốc gia đối tác có tỷ trọng ngoại thương lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới hơn 86% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc (bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia và Úc).

Lý do lựa chọn phương pháp định lượng chỉ số REER kết hợp mô hình kiểm định hồi quy kinh tế lượng là nhằm loại bỏ ảo ảnh tiền tệ do lạm phát cao gây ra, phản ánh chính xác sức mua đối ngoại thực tế của đồng Việt Nam. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập và chuẩn hóa từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và hệ thống dữ liệu tài chính Reuters 3000 Xtra với năm 1999 được lựa chọn làm năm cơ sở tính toán.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Trong giai đoạn 1999 - 2005, chỉ số REER duy trì xu hướng lớn hơn 100 điểm, chứng minh đồng Việt Nam được định giá thấp trong thực tế, tạo lợi thế cạnh tranh rõ nét cho hoạt động xuất khẩu vốn chiếm tỷ trọng trên 70% GDP.
  • Bước sang năm 2008, chỉ số REER sụt giảm mạnh xuống mức 89,842 vào quý 3 năm 2008, đồng nghĩa với việc đồng Việt Nam bị định giá cao hơn 10,158% so với giá trị thực tế do lạm phát nội địa bùng nổ lên mức gần 20%, dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai tương đương 5,8% GDP.
  • Tính toán so sánh giữa quý 4 năm 2000 và quý 3 năm 2011 cho thấy tỷ giá thực song phương USD/VND giảm 27,023%, trong khi tỷ giá thực hiệu lực đa phương REER giảm 15,3%, khẳng định đồng nội tệ đang bị định giá cao khoảng 17% đến 23% so với rổ tiền tệ của 10 đối tác chính.
  • Quyết định điều chỉnh tỷ giá ngày 11/02/2011 của Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 9,3% (từ 18.932 lên 20.693 VND/USD) và thu hẹp biên độ dao động từ 3% xuống 1% đã thu hẹp khoảng cách với thị trường tự do xuống dưới 0,5%, tạo điều kiện để mua ròng 5 tỷ USD bổ sung vào dự trữ ngoại hối trong 7 tháng đầu năm 2011.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến đồng Việt Nam bị định giá cao xuất phát từ chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài trong giai đoạn 2002 - 2009, với tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân 37%/năm và cung tiền M2 tăng 32,2%/năm nhằm hỗ trợ chính sách tài khóa mở rộng có mức bội chi ngân sách lên tới 5,1% - 6,9% GDP. Lượng tiền cung ứng vượt xa tốc độ tăng trưởng GDP thực tế (bình quân 7,3%) đã đẩy chỉ số giá tiêu dùng tăng nhanh, tạo áp lực nhập khẩu lạm phát.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, tình trạng neo giữ tỷ giá danh nghĩa quá cứng nhắc tại Việt Nam phản ánh nhiều nét tương đồng với cuộc khủng hoảng đồng Baht Thái Lan năm 1997, khi tỷ giá cố định 25 Baht/USD kéo dài dẫn đến cạn kiệt dự trữ ngoại hối. Ngược lại, mô hình quản lý tỷ giá theo rổ tiền tệ có biên độ điều chỉnh định kỳ (mô hình BBC) của Trung Quốc và Hàn Quốc đã chứng minh hiệu quả trong việc duy trì thặng dư cán cân thương mại bền vững.

Trên sơ đồ phân tích Swan giai đoạn 2009 - 2011, vị thế kinh tế Việt Nam nằm lệch hẳn về vùng lạm phát cao đi kèm thâm hụt cán cân vãng lai nghiêm trọng. Các dữ liệu trực quan trên biểu đồ phân kỳ giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực hiệu lực từ sau năm 2007 chứng minh rằng việc điều chỉnh tỷ giá theo từng bậc thang hành chính không đủ bù đắp chênh lệch lạm phát, làm xói mòn sức cạnh tranh xuất khẩu của hàng hóa nội địa.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Thực hiện điều chỉnh giảm giá danh nghĩa đồng Việt Nam linh hoạt theo định hướng chỉ số REER nhằm triệt tiêu mức định giá cao từ 17% đến 23%, đưa tỷ giá tiệm cận mức cân bằng sức mua và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 15%/năm trong giai đoạn 2012 - 2015.
  • Thiết lập cơ chế điều hành tỷ giá neo theo rổ tiền tệ (Basket) gồm 10 đồng tiền chủ chốt với biên độ dao động linh hoạt (Band) từ 1% đến 2% và cơ chế trườn bò có kiểm soát (Crawl), do Ngân hàng Nhà nước chủ trì vận hành từ quý 1 năm 2012.
  • Phối hợp đồng bộ chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tài khóa thận trọng theo nguyên tắc phân bổ công cụ của sơ đồ Swan, khống chế tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới 20%/năm và giảm tỷ lệ bội chi ngân sách quốc gia xuống dưới mức 5% GDP.
  • Hoàn thiện cấu trúc thị trường ngoại hối liên ngân hàng, từng bước xóa bỏ tình trạng đô la hóa nền kinh tế, đồng thời thực thi nghiêm ngặt Nghị định 95 với mức chế tài xử phạt hành chính lên đến 500 triệu đồng đối với các hành vi giao dịch ngoại tệ trái phép, phấn đấu củng cố quỹ dự trữ ngoại hối đạt quy mô tối thiểu từ 12 đến 16 tuần nhập khẩu trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính): Ứng dụng mô hình tính toán REER cho 10 đồng tiền đối tác và khung lý thuyết Swan để xây dựng kịch bản điều hành tỷ giá linh hoạt, phục vụ mục tiêu kiểm soát lạm phát kỳ vọng dưới mức 7%.
  • Khối ngân hàng thương mại và định chế tài chính: Sử dụng công thức tỷ giá kỳ vọng và các chỉ số co giãn thương mại để dự báo biến động tỷ giá, tối ưu hóa công tác quản trị rủi ro thanh khoản ngoại tệ đối với danh mục cho vay ngoại tệ chiếm tỷ trọng từ 20% đến 23% tổng dư nợ.
  • Doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Khai thác kết quả kiểm định điều kiện Marshall - Lerner để hoạch định chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá qua các công cụ phái sinh, tối ưu hóa chi phí nhập khẩu nguyên liệu và định giá hợp đồng ngoại thương.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận phương pháp luận lượng hóa 51 chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô theo quý và khung lý thuyết tiền tệ quốc tế để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về chính sách tỷ giá trong nền kinh tế mở.

Câu hỏi thường gặp

  • Tỷ giá thực hiệu lực (REER) khác biệt như thế nào so với tỷ giá danh nghĩa? Tỷ giá danh nghĩa phản ánh giá cả giao dịch trực tiếp giữa hai đồng tiền trên thị trường, trong khi REER là chỉ số đa phương phản ánh sức mua đối ngoại thực tế sau khi đã điều chỉnh chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và 10 quốc gia đối tác thương mại. Khi chỉ số REER sụt giảm xuống dưới 100 điểm (như mức 89,842 vào năm 2008), đồng Việt Nam đang bị định giá cao, gây bất lợi cho năng lực cạnh tranh ngoại thương.

  • Tại sao việc giảm giá đồng nội tệ không phải lúc nào cũng lập tức cải thiện cán cân thương mại? Theo điều kiện Marshall - Lerner, việc giảm giá đồng tiền chỉ giúp cải thiện cán cân thương mại khi tổng độ co giãn của cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Trong ngắn hạn, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, do đó việc điều chỉnh tỷ giá có thể làm gia tăng chi phí sản xuất và chỉ phát huy hiệu quả tích cực sau một độ trễ thời gian nhất định.

  • Đợt điều chỉnh tỷ giá ngày 11/02/2011 mang lại bài học thực tiễn nào trong điều hành vĩ mô? Quyết định nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 9,3% lên mức 20.693 VND/USD kết hợp thu hẹp biên độ xuống 1% đã xóa bỏ hoàn toàn khoảng cách 7% - 8% của thị trường chợ đen. Động thái này chứng minh rằng việc điều chỉnh tỷ giá chính thức sát với thực tế thị trường là điều kiện tiên quyết để giải tỏa tâm lý găm giữ ngoại tệ và hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước mua ròng 5 tỷ USD dự trữ ngoại tệ.

  • Mô hình kinh tế Swan giải quyết xung đột giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và cân bằng cán cân thanh toán ra sao? Sơ đồ Swan chứng minh rằng một công cụ chính sách đơn lẻ không thể giải quyết đồng thời hai mục tiêu vĩ mô. Khi nền kinh tế đối mặt với lạm phát cao gần 19% kèm thâm hụt cán cân vãng lai 5,8% GDP, cơ quan điều hành bắt buộc phải kết hợp đồng thời chính sách giảm chi tiêu nội địa (chính sách tiền tệ, tài khóa thắt chặt) và chính sách chuyển dịch chi tiêu thông qua điều chỉnh tỷ giá thực.

  • Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần áp dụng giải pháp gì để phòng ngừa rủi ro khi đồng nội tệ bị định giá cao? Doanh nghiệp cần chủ động sử dụng các công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng kỳ hạn (Forward) và hợp đồng hoán đổi (Swap) để cố định chi phí vốn. Đồng thời, khi đồng nội tệ bị định giá cao từ 17% đến 23%, doanh nghiệp cần đa dạng hóa đồng tiền thanh toán trong rổ 10 ngoại tệ mạnh nhằm phân tán rủi ro thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào đồng USD.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng thành công chuỗi chỉ số REER giai đoạn 1999 - 2011 với 10 đối tác ngoại thương, chỉ ra mức độ định giá cao của đồng Việt Nam dao động trong khoảng 17% đến 23%.
  • Kiểm định thực nghiệm đã làm sáng tỏ tác động của áp lực lạm phát nội địa bình quân 10,1% và tăng trưởng cung tiền đối với tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai 5,8% GDP.
  • Vận dụng thành công mô hình cân bằng vĩ mô Swan để chứng minh tính tất yếu của việc phối hợp đa công cụ chính sách nhằm đạt được trạng thái toàn dụng lao động và ổn định giá trị tiền tệ.
  • Đề xuất lộ trình cụ thể chuyển đổi cơ chế điều hành sang mô hình neo rổ tiền tệ linh hoạt trong giai đoạn 2012 - 2015, hướng tới mục tiêu củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia đạt ngưỡng an toàn 12 tuần nhập khẩu.
  • Các cơ quan quản lý và giới nghiên cứu tài chính cần tiếp tục khai thác khung phân tích REER để hoàn thiện cơ chế thị trường ngoại hối liên ngân hàng, tạo lập nền tảng ổn định tiền tệ vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam.