CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.1 Tỷ giá hối đoái 1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái Hối đoái: là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang một đồng tiền khác, chẳng hạn từ VND sang USD hay sang EUR. Sự chuyển đổi này xuất phát từ yêu cầu thanh toán giữa các cá nhân, các công ty, các tổ chức thuộc hai quốc gia khác nhau và dựa trên tỷ lệ nhất định của hai đồng tiền. Tỷ lệ đó gọi là tỷ giá hối đoái hay gọn hơn là tỷ giá Tỷ giá hối đoái: là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác.
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện cung cầu ngoại hối. Ở Việt Nam, Pháp lệnh ngoại hối được quy định tại khoản 10 điều 3 Nghị định 160/2006 NĐ-CP ngày 18/12/2006 của Chính phủ có định nghĩa: “ Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam” 1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái. Có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức phân loại khác nhau.
Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm: Tỷ giá chính thức: là một loại tỷ giá do NHTW của mỗi nước công bố. Tỷ giá hối đoái này được công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của NHTW. Dựa vảo tỷ giá này các NHTM và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi. Ở một số nước như Pháp tỷ giá hối đoái chính thức được ấn định thông qua nhiều giao dịch vào thời điểm xác định trong ngày.
Tỷ giá kinh doanh: là tỷ giá dùng để kinh doanh, mua bán ngoại tệ. Tỷ giá này do các NHTM hay các tổ chức tín dụng đưa ra. Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức do NHTW công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanh như: cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm lý của người giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán. Tỷ giá kinh doanh bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán, tỷ giá chợ đen (tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ chính thức).
Căn cứ vào tiêu thức, thời điểm thanh toán Tỷ giá giao nhận ngay là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau. Loại tỷ giá này do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong -2- biên độ do NHNN quy định. Việc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán. Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định về tỷ giá hiện hành của NHNN tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Thường là giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện theo hợp đồng (1, 3, 6 tháng…) - Tỷ giá mở cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày. - Tỷ giá đóng cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày. Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá, tỷ giá được chia thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được niêm yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng. Tỷ giá thực là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quan giá cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá.
Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau: En x Pb/ Pf = Er Er: Tỷ giá hối đoái thực En: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa Pb: Giá cả ở nước có đồng tiền yết giá Pf: Giá cả ở nước có đồng tiền định giá Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được phân thành hai loại: Tỷ giá điện hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Đây là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác. Tỷ giá thư hối là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư. Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia thành 5 loại: Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu trả tiền ngay bằng ngoại tệ. Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng ngoại tệ. Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển khỏan qua ngân hàng. Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng tiền mặt.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế Đối với từng quốc gia hay nhóm quốc gia (nếu có sự liên kết hay có đồng tiền chung) thì tỷ giá hối đoái mà họ quan tâm hàng đầu chính là tỷ giá của chính đồng tiền quốc -3- gia đó hay nhóm quốc gia đó (đồng nội tệ) với đồng tiền của các quốc gia khác (đồng ngoại tệ).
Tỷ giá hối đoái giữ vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế. Sự vận động của nó có tác động sâu sắc mạnh mẽ tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia thể hiện trên hai điểm cơ bản sau: * Tỷ giá hối đoái và ngoại thương: tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp đến giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó. Khi một đồng tiền của quốc gia tăng giá (tăng trị giá so với đồng tiền khác) thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn và hàng hoá của nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn. Ngược lại, khi đồng tiền một nước sụt giá, hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt hơn (khi các yếu tố khác không thay đổi).
Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động đến cán cân thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặc thặng dư. * Tỷ giá hối đoái và sản lượng, công ăn việc làm và lạm phát. Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là tác động đến ngoại thương mà thông qua đó, tỷ giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất nghiệp… 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Tỷ lệ lạm phát tương đối: Sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát tương đối có thể ảnh hưởng đến các hoạt động thương mại, đến lượt nó những hoạt động thương mại này tác động lên cầu tiền và cung tiền, và vì thế tác động đến tỷ giá hối đoái.
Nếu lạm phát của Mỹ đột ngột tăng lên đáng kể trong khi lạm phát ở Anh vẫn duy trì như cũ (giả định là công ty Anh và Mỹ đều bán hàng hoá có thể thay đổi lẫn nhau). Sự tăng vọt lạm phát bất thình lình ở Mỹ sẽ gây ra một sự gia tăng nhu cầu của Mỹ đối với nhu cầu hàng hoá Anh, tạo ra sự gia tăng nhu cầu của của Mỹ đối với đồng bảng Anh. Thêm vào đó, sự tăng vọt trong lạm phát Mỹ sẽ làm giảm nhu cầu của người Anh đối với hàng hoá Mỹ và vì thế làm giảm cung đồng bảng Anh để mua hàng. Và (minh hoạ hình 1.1) Giá S2 S trị đồng bảng D D2 Số lượng đồng bảng Hình 1.1: Tác động của việc gia tăng lạm phát ở Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh -4- Mức độ giảm giá trị thực sự của đồng bảng Anh sẽ phụ thuộc vào mức độ dịch chuyển của đường cung và đường cầu trong thực tế Lãi suất tương đối: Thay đổi trong lãi suất tương đối tác động đến đầu tư chứng khoán nước ngoài, đến lượt nó đầu tư chứng khoán nước ngoài lại ảnh hưởng đến cung và cầu tiền và vì thế ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.
Giả định rằng lãi suất của Mỹ tăng trong khi lãi suất của Anh giữ nguyên không đổi. Trong trường hợp này, các công ty Mỹ có khả năng sẽ giảm nhu cầu của họ đối với đồng bảng Anh vì giờ đây lãi suất của Mỹ hấp dẫn hơn một cách tương đối so với lãi suất Anh và vì thế có ít đầu tư vào các khoản ký gởi tại ngân hàng Anh. Vì lãi suất của Mỹ giờ đây hấp dẫn hơn đối với các công ty Anh với khoản tiền vượt trội nên cung bảng Anh (bởi các công ty Anh) sẽ tăng khi họ thiết lập nhiều hơn các khoản ký gửi vào ngân hàng Mỹ. Do một sự dịch chuyển vào bên trong của đường cầu bảng Anh và dịch chuyển ra phía ngoài của đường cung đồng bảng Anh nên tỷ giá cân bằng sẽ giảm.
Nếu lãi suất Mỹ giảm một cách tương đối so với lãi suất Anh, sẽ có sự dịch chuyển ngược lại.2 Tác động của sự gia tăng lãi suất ở Mỹ đến giá trị cân bằng của đồng bảng Anh S S2 Giá trị đồng bảng D2 D Số lượng đồng bảng Lãi suất thực: Trong khi lãi suất cao tương đối có thể thu hút dòng vốn nước ngoài (để đầu tư vào các chứng khoán có lãi suất cao) thì lãi suất cao này có thể phản ánh dự kiến lạm phát cao. Vì lạm phát cao có thể đặt áp lực giảm giá lên đồng tiền của nước đó nên không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đầu tư vào các chứng khoán định danh bằng đồng tiền này. Vì lý do đó, cần thiết phải xem xét lãi suất thực, là lãi suất danh nghĩa đã điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát.