chương 1 trình bày bốn vấn đề chính, bao gồm: i.Khái quát về vàng; ii. Thị trường vàng; iii.Cơ chế quản lý thị trường vàng và kinh doanh vàng tài khoản; iv.Kết luận về cơ chế quản lý thị trường vàng và kinh doanh vàng tài khoản. KHÁI QUÁT VỀ VÀNG 1.1 Vàng Vàng đã được đánh giá cao trong hàng ngàn năm không chỉ vì vẻ đẹp, tính hấp dẫn mà còn có vai trò lịch sử với chức năng của tiền tệ, được sử dụng như tiền tệ, làm cơ sở cho các giao dịch quốc tế vì các lý do cơ bản sau đây: Tính quý hiếm nhưng không quá hiếm. Tính bền vững và có khả năng chống ăn mòn.
Tính mềm dẻo và dễ chia nhỏ. Tính dễ nhận biết, dễ phân biệt. Tính đồng nhất. -8- Vàng đóng một vai trò trung tâm trong hệ thống tiền tệ quốc tế cho đến khi sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods xảy ra vào năm 1973.
Kể từ đó, vai trò của vàng đã được giảm dần. Tuy nhiên, vàng vẫn là một tài sản quan trọng trong dự trữ của các quốc gia mặc dù hiện nay không một quốc gia nào còn sử dụng vàng làm tiền tệ chính thức [9].2 Cầu vàng Theo cách phân loại truyền thống, vàng được sử dụng cho ba nhu cầu i.dùng làm trang sức; ii.dùng trong công nghệ bao gồm cả các ứng dụng cho y khoa; và iii. Tính trung bình giai đoạn 2006-2010, nhu cầu vàng hàng năm trên thế giới là 3.722 tấn/năm trong đó nhu cầu phục vụ cho trang sức chiếm 59%, đầu tư bao gồm cả đầu tư trên thị trường OTC chiếm 29%, 12% còn lại phục vụ cho công nghệ [22]. Nhu cầu này tiếp tục tăng mạnh trong năm 2010 và 2012 trong đó mức tăng chủ yếu tập trung vào vàng đầu tư (xem bảng 1.1: Biến động cầu vàng 2009-2011 Đơn vị: Tấn TT Nguồn cầu 2009 2010 2011 1 Trang sức 1.1 Tổng vàng thoi 779 1.2 ETF vàng và chứng chỉ vàng khác 623 382 185 3 Công nghệ 410 466 453 4 Mua của khu vực chính thức -34 77 457 Tổng 3.574 5 Đầu tư OTC và tồn kho 517 207 -77 Tổng cầu 4.497 Nguồn: https://www.org/investment/statistics/demand_and_supply_statistics/ 1.Trang sức Nhu cầu vàng cho trang sức bị phụ thuộc vào sự mong muốn, mức thu nhập, giá và sự biến động giá cùng hàng loạt các yếu tố khác như tình hình kinh tế-xã hội và văn hóa.
Theo thống kê của WGC, trong giai đoạn 2006-2010 hơn 60% nhu cầu vàng trang sức tập trung ở bốn quốc gia và vùng lãnh thổ là Trung Quốc, Ấn Độ, -9- Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Đông (xem đồ thị 1. Tùy theo yếu tố kinh tế-xã hội và văn hóa mà nhu cầu vàng ở mỗi quốc gia có sự khác nhau.1: Cầu vàng trung bình giai đoạn 2006-2010 chia theo khu vực Nguồn: Thomson Reuters, World Gold Council [21] 1. Đầu tư Nhu cầu đầu tư vào vàng vật chất bao gồm vàng thỏi (vàng khối/thanh, vàng miếng), vàng xu (đồng vàng), vàng huy chương (medal), vàng cho các quỹ đầu tư ETF (Exchange Traded Funds) và các sản phẩm khác có liên quan. Nhu cầu vàng cho đầu tư đã có sự gia tăng đáng kể từ năm 2000 khi tại thời điểm này chỉ chiếm 4% tổng nhu cầu vàng nhưng tỷ lệ này đã tăng nhanh đến mức kỷ lục, đạt mức 39% (năm 2009), 38% (năm 2010) và 37% (năm 2011) [21].
Công nghệ Nhu cầu vàng trong lĩnh vực này thường biến động theo sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử và GDP toàn cầu. Hơn 50% vàng sử dụng trong lĩnh vực công nghệ là cho mục đích sản xuất các chi tiết yêu cầu chịu được sự ăn mòn, dẫn điện cao và chịu nhiệt cao của các sản phẩm điện tử. Hầu hết các linh kiện điện tử có chứa vàng thường được sản xuất ở Đông Á, Tây Châu Âu hoặc Bắc Mỹ. -10- Y khoa cũng đã có lịch sử lâu đời trong việc sử dụng vàng.
Bên cạnh đó, vàng còn được sử dụng trong một số ngành công nghiệp khác và dùng để trang trí như vàng mạ và sơn phủ với nhu cầu chiếm khoảng 2,5% tổng nhu cầu vàng.3 Cung vàng Theo cách phân loại truyền thống, cung vàng bao gồm vàng khai thác mới từ mỏ, từ dự trữ của các ngân hàng trung ương và từ việc tái chế từ các nguồn vàng tồn kho trên mặt đất.2: Biến động cung vàng 2009-2011 Đơn vị: Tấn TT Nguồn cung 2009 2010 2011 1 Khai thác mỏ 2.497 Nguồn: https://www.org/investment/statistics/demand_and_supply_statistics/ Trong giai đoạn 2006-2010, nguồn cung vàng bình quân hàng năm khoảng 3.779 tấn/năm trong đó 59% là khai thác mới từ mỏ vàng, 6% là từ bán ròng của khu vực chính thức và 36% là từ tái chế vàng trên mặt đất chủ yếu là từ các thiết bị có sử dụng vàng và đồ trang sức [22]. Nhìn chung nguồn cung vàng vẫn đáp ứng được nhu cầu trên thị trường trong đó chủ yếu là từ khai thác mới (xem bảng 1.2: Cung vàng trung bình giai đoạn 2006-2010 chia theo nguồn Nguồn: Thomson Reuters, World Gold Council [22] -11- 1. Khai thác vàng Đồ thị 1.3: Mười quốc gia sản xuất vàng lớn nhất thế giới năm 2010 Nguồn: Thomson Reuters, World Gold Council [22] Vàng được khai thác trên mọi châu lục (ngoại trừ Nam Cực là nơi bị cấm khai thác khoáng sản) bằng các cách thức khác nhau, từ rất nhỏ đến rất lớn. Trong thế kỷ 20, Nam Phi là quốc gia sản xuất vàng lớn nhất thế giới (vào đầu những năm 1970 đã được sản xuất 1.000 tấn/năm, chiếm hơn 70% sản lượng của toàn thế giới vào thời gian đó).
Vị thế độc tôn của Nam Phi càng giảm dần trong 2 thập kỷ kế tiếp khi sản lượng khai thác đã tăng lên đáng kể ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Sự thay đổi này đã góp phần giảm thiểu sự biến động giá vàng thấp hơn so với các hàng hóa khác và làm giảm ảnh hưởng của vàng đến các cú sốc kinh tế, chính trị trong một quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia khai thác vàng lớn nhất thế giới với mức khai thác khoảng 351 tấn trong năm 2010. Vàng từ khu vực chính thức Ngân hàng trung ương và các tổ chức quốc tế là những chủ sở hữu chính của vàng trong hơn 100 năm qua.
Ngân hàng trung ương bắt đầu giữ vàng từ những năm 1880 trong khoảng thời gian chế độ bản vị vàng khi số tiền giấy phát hành được đảm bảo bởi số vàng tương ứng trong kho và tỷ lệ chuyển đổi tiền giấy ra vàng được giữ ở mức cố định. Mức dự trữ đỉnh cao được xác định vào vào năm 1960 với khối lượng 38.000 tấn, chiếm khoảng 50% số vàng tồn kho trên mặt đất -12- lúc đó [24]. Khi hệ thống Breeton Wood chấm dứt vào năm 1973, vai trò dự trữ của vàng không còn quan trọng như thời gian trước. Tái chế vàng Trên thực tế, vàng không thể bị phá hủy nên toàn bộ vàng đã khai thác vẫn còn tồn tại.
Theo ước tính của Thomson Reuters GFMS [24], trong tổng số 166.600 tấn vàng đã tồn tại trên mặt đất tại thời điểm năm 2010 có 51% tồn tại dưới dạng trang sức, 19% nằm trong tay các nhà đầu tư, 17% là dự trữ chính thức, 11% nằm trong các sản phẩm công nghiệp và 2% là những nơi khác. Một phần trong số vàng này sẽ quay trở lại thị trường từ việc tái chế đồ trang sức, sản phẩm công nghiệp và bán ròng của khu vực chính thức. Như vậy, các phân tích trên cho thấy cầu vàng vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao trong khi nguồn cung vàng chủ yếu từ khai thác vẫn đang bị hạn chế và chi phí khai thác ngày càng tăng cao. Điều này cho thấy quan hệ cung cầu vàng vẫn là thách thức lớn và giá vàng chắc chắn sẽ vẫn còn nhiều biến động khó lường.
THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ KINH DOANH VÀNG TÀI KHOẢN Thị trường vàng bao gồm thị trường: i.thị trường vàng vật chất (physical gold) gồm thị trường vàng thoi vật chất và thị trường vàng tài khoản; và ii.thị trường chứng chỉ vàng. Thị trường vàng vật chất (Physical gold) và kinh doanh vàng tài khoản (Gold accounts) Thị trường vàng vật chất giao dịch vàng thoi (chủ yếu dưới dạng vàng khối/thanh/miếng/gold bar), vàng xu (đồng vàng), vàng huy chương và cũng có giao dịch vàng trang sức (nhất là vàng trang sức có sự chế tác đơn giản nhưng hàm lượng vàng cao). Tuy nhiên, vàng xu, vàng huy chương, vàng trang sức về cơ bản đều -13- được sản xuất từ vàng thoi do vậy sự biến động giá vàng này liên kết chặt chẽ với biến động vàng thoi. Vàng thoi là vàng với trọng lượng và kích cỡ khác nhau từ ít nhất là 1 gram cho đến 400 troy ounce (theo kích thước chuẩn của thị trường London).
Vàng thoi thường được đánh dấu với tên nhà sản xuất hoặc người phát hành, có ghi rõ số seri, năm sản xuất, độ tinh khiết và trọng lượng. Độ tinh khiết của các loại vàng thoi khác nhau, thường dao động từ 99,50% đến 99,99% vàng. Vàng thoi phải đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Hiệp hội thị trường vàng thoi Luân đôn (London Bullion Market Association-LBMA). Vàng xu (gold coin) là vàng dưới dạng xu do chính phủ các quốc gia hoặc nhà sản xuất vàng trên thế giới cung cấp.
Vàng xu khác nhau về trọng lượng và caratage (carat). Carat là đơn vị đo lường chất lượng vàng. Vàng nguyên chất ("fine gold") là 24 carat, do đó 24 carat về mặt lý thuyết là 100% vàng. Các mức thấp hơn 24 carat được tính theo tỷ lệ, chẳng hạn ví dụ 18 carat là 18/24 vàng 100% tương đương 75,0% vàng.
Vàng xu có trọng lượng phổ biến nhất là 1/20, 1/10, 1/4, 1/2 và 1 ounce. Vàng xu nêu ở đây khác với tiền xu dùng làm kỷ niệm. Các nhà đầu tư vàng thoi thường không muốn nhận vàng vật chất của họ, vì những rủi ro và chi phí liên quan đến vận chuyển và cất trữ. Hiện nay, hầu hết các đại lý và môi giới thực hiện để lưu trữ vàng dưới dạng số dư trên tài khoản vàng (gold accounts).
Từ đó, thay vì giao dịch vàng vật chất và chuyển giao vàng vật chất đang nắm giữ trực tiếp cho nhau, họ chuyển sang giao dịch dựa trên số dư trên tài khoản vàng còn vàng vật chất thì vẫn giữ nguyên trong kho. Cả hai thị trường giao dịch vàng vật chất và thị trường vàng tài khoản đều có mối liên hệ chặt chẽ thông qua chênh lệch arbitrage và người tham gia bị buộc phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu về vàng vật chất đồng thời giá các chứng chỉ vàng chịu sự ảnh hưởng lớn từ giá vàng vật chất.