phần mở đầu, 3 chƣơng và phần kết luận: Chƣơng 1: Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án. Dựa trên những nghiên cứu đi trƣớc, luận án xác lập khung lý thuyết nghiên cứu ẩn dụ cấu trúc trong tiếng Việt và tiếng Anh làm cơ sở cho việc phân tích ADCT trong DNCT ở chƣơng 2 và 3. Chƣơng 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Chính trị‖ trong diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt, tập trung phân tích các ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Chính trị‖, đồng thời đƣa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong DNCT tiếng Việt và tiếng Anh. Chƣơng 3: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Quốc gia‖ trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan đến những ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Quốc gia‖, đồng thời đƣa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong DNCT tiếng Việt và tiếng Anh.
Phần kết luận: tóm tắt các kết quả của luận án và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp sau. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm 1.1 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng truyền thống * Các nghiên cứu ở ngoài nước Trong giai đoạn tiền tri nhận, ẩn dụ đƣợc hiểu là một sự so sánh ngầm giữa hai sự vật, hiện tƣợng.
Xét về mặt định nghĩa, theo từ điển Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics (Richards và cộng sự, 1992) ẩn dụ mô tả một sự vật, hiện tƣợng bằng cách nói đến một sự vật hiện tƣợng khác có thể đem ra so sánh với nó. Theo từ điển Oxford Advance Learner‘s Dictionary (Hobby, 2005), ẩn dụ là hiện tƣợng một từ ngữ đƣợc dùng để mô tả, sự vật hiện tƣợng theo một cách khác so với các dùng thông thƣờng của nó, nhằm cho thấy những đặc điểm tƣơng đồng hoặc liên kết về ý nghĩa của hai sự vật hiện tƣợng, từ đó nhấn mạnh sự mô tả độc đáo riêng biệt của biểu thức ẩn dụ. Bên cạnh những định nghĩa theo các từ điển kể trên thì trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu về ẩn dụ khác. Theo nhận xét của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi (2006), ẩn dụ là hiện tƣợng ngôn ngữ phổ biến xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ khác nhau và thể hiện ở nhiều cấp độ về mặt ngôn ngữ.
Lý do cho sự phổ biến này đƣợc các tác giả giải thích là nhờ việc ẩn dụ có khả năng linh hoạt trong biểu thị ý nghĩa, đơn giản hóa các ý niệm, định nghĩa mang tính trừu tƣợng cao [95]. Theo Charteris-Black (2004), bên cạnh những nhận định của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi, ông còn nhấn mạnh rằng hiệu quả của ngôn ngữ và giao tiếp đƣợc nhấn mạnh nhờ vào ẩn dụ do có sức nặng thuyết phục đối với lý trí và tình cảm của ngƣời nghe [99]. Có thể thấy rằng việc sử dụng ẩn dụ trong ngôn ngữ hứa hẹn đạt đƣợc hiệu quả tối đa, bởi đó là kết quả của chắt lọc văn hóa đại chúng dựa trên những giá trị văn hóa dân tộc. Ẩn dụ giống nhƣ hình ảnh phản chiếu của nhận thức và hành động 7 của một cộng đồng văn hóa, phản ánh quan điểm và nhận thức của họ đối với thế giới khách quan và đời sống xã hội.
Tuy nhiên với hƣớng nghiên cứu này, nhà nghiên cứu cho rằng ẩn dụ chỉ là vấn đề thuộc về ngôn ngữ và không thuộc các vấn đề về tƣ duy và hành động, thêm vào đó, hƣớng nghiên cứu này cho rằng lối nói ẩn dụ chỉ xuất hiện trong các dạng ngôn ngữ đặc biệt, ví dụ nhƣ trong thi ca và tu từ học (Lakoff (1989)) [126]. Giống với quan điểm của Lakoff, Kövecses (2015) nhận định, tu từ học truyền thống xem xét ẩn dụ dƣới góc độ là một đặc điểm của từ ngữ, đƣợc xuất hiện với mục đích nghệ thuật và không thƣờng xuyên xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày [124]. Chính vì lý do này, ẩn dụ đƣợc hiểu là cách nói bóng bẩy xuất phát từ nhu cầu biểu đạt những khái niệm hoặc những ý nghĩa mà ngôn ngữ theo lối thông thƣờng khó biểu đạt. Dựa trên những phân tích trên thì ẩn dụ theo hƣớng nghiên cứu truyền thống là cách nói bóng bẩy với mục đích nghệ thuật bởi ẩn dụ dựa trên khái niệm tƣơng đồng hoặc so sánh giữa việc biểu thị nghĩa hình ảnh của hai sự vật hiện tƣợng.
Chính sự tƣơng đồng này cho phép giải thích sự vật hiện tƣợng theo lối ẩn dụ. * Các nghiên cứu trong nước Theo quan điểm truyền thống, ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học định nghĩa ẩn dụ dựa trên cơ sở là sự tƣơng đồng. Nguyễn Thiện Giáp (2011) có quan điểm tƣơng tự: ―Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tƣợng đƣợc so sánh với nhau‖ [17]. Từ những năm 1990 cách tiếp cận tri nhận trong nghiên cứu ngôn ngữ đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam.
Năm 1990, Nguyễn Lai nghiên cứu Từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt, phân tích sự phát triển của ngữ nghĩa dựa trên những trải nghiệm của tâm lý và vật lý của các từ chỉ hƣớng ra-vào, lên-xuống, đến-tới, lại- qua, sang-về. Công trình này không dùng thuật ngữ ―ngôn ngữ học tri nhận‖, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu đây là công trình mang màu sắc tri nhận đầu tiên, mở ra hƣớng nghiên cứu mới cho các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam [44]. Năm 2002, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã bƣớc đầu sử dụng thuật ngữ tri giác khi bàn đến ẩn dụ 8 dƣới lăng kính là một kiểu ―tƣ duy phạm trù‖. Đặc biệt, Trần Văn Cơ (2009) với chuyên khảo Khảo luận ẩn dụ tri nhận đã tổng thuật hai công trình kinh điển của Lakoff và Johnson là ―Metaphors We Live by và Women, Fire and the Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind‖ một cách toàn diện, hệ thống các vấn đề cốt lõi về ẩn dụ ý niệm, các khái niệm then chốt đƣợc phân tích, diễn giải tỉ mỉ bằng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, mở ra hƣớng đi mới cho các nghiên cứu sau này [6].
Tóm lại với hƣớng nghiên cứu truyền thống thì ẩn dụ chỉ đƣợc xem xét nhƣ một hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ, có thể chỉ là hiện tƣợng lời nói (ẩn dụ tu từ) hoặc hiện tƣợng ngôn ngữ (ẩn dụ từ vựng) chứ chƣa đƣợc coi là một phƣơng thức tƣ duy nhƣ ngôn ngữ học tri nhận quan niệm sau này. Phần tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày riêng về nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ học tri nhận. Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận * Các nghiên cứu ở ngoài nước Ngôn ngữ học tri nhận ra đời dẫn đến những thay đổi khi nghiên cứu về ẩn dụ. Dẫn đầu trong nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận bắt đầu từ những năm 1980 với những công trình nghiên cứu của những nhà khoa học thế giới nhƣ G.
Grady… Nghiên cứu điển hình nhất và đƣợc coi là thành công nhất đối với nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận là công trình ―Metaphors We Live By‖ của G. Trong công trình này, Lakoff và Johnson bắt đầu phát triển các khái niệm mới về ẩn dụ ý niệm và bắt đầu liên kết ẩn dụ trong nghiên cứu ngôn ngữ tới những ngành khoa học khác. Lakoff và Johnson cho rằng, ẩn dụ là một quá trình liên quan đến nhận thức hơn là một quá trình ngôn ngữ. Dƣới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ là một phƣơng thức truyền đạt (công cụ) để ý niệm hóa các khái niệm trừu tƣợng hoặc tƣ duy về sự vật; ―hệ thống ý niệm thông thƣờng của chúng ta, dựa vào đó chúng ta vừa suy nghĩ, vừa hành động, về cơ bản mang bản chất ẩn dụ‖.
Ban đầu, xu hƣớng nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận dựa vào trải nghiệm, tuy nhiên xu hƣớng này đã có những phát triển mới về sau. Lakoff 9 và Johnson cho rằng những ẩn dụ cảm xúc xuất hiện trong ngôn ngữ và xuất phát từ cơ sở văn hóa và sinh học của con ngƣời [130]. Dựa trên nền tảng về ngôn ngữ học tri nhận, Lakoff (1993) tiếp tục phát triển các khái niệm về ẩn dụ, ông phát triển tƣ tƣởng về sự liên hệ giữa quá trình tạo lập hệ thống ý niệm của con ngƣời, cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên và vai trò của ẩn dụ để xây dựng học thuyết về ―tƣ duy nghiệm thân‖ (embodied mind). Học thuyết này nghiên cứu sự liên hệ và phụ thuộc giữa năng lực nhận thức và tƣ duy đến thế giới quan trong đó liên kết với khía cạnh sinh học của con ngƣời: đặc điểm não bộ và cơ thể ngƣời [127].
Việc ứng dụng những thành tựu của các lĩnh vực khoa học khác vào nghiên cứu ẩn dụ đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng lý thuyết ẩn dụ vào nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Các nghiên cứu cấu trúc của ẩn dụ đã góp phần làm sáng tỏ thêm cách thức con ngƣời tƣ duy ở một số lĩnh vực quan trọng. Xa hơn, đến nghiên cứu của Grady (1997) thì tác giả còn chỉ ra rằng kinh nghiệm hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con ngƣời là cơ sở đƣa ra các đánh giá chủ quan của nhận thức ngôn ngữ [111, 112]. Về mối quan hệ giữa ẩn dụ trong văn học và trong ngôn ngữ đời thƣờng, Lakoff và Tunner (1989) chứng minh rằng các ẩn dụ văn học đều có cơ sở sâu xa từ các ẩn dụ đời thƣờng và chỉ khi phép ẩn dụ trong thơ ca ổn định thì ẩn dụ đó mới đƣợc tiếp tục sử dụng, nhập vào ngôn ngữ đời thƣờng.
Các ý niệm về đạo đức đƣợc thể hiện một cách rõ ràng trong văn học thông qua các ẩn dụ và thảo luận về ẩn dụ. Qua những thảo luận này những ý niệm hoặc thông điệp đƣợc truyền đạt nhanh và rõ ràng hơn [126]. Trong lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội, Lakoff và Johnson (1996) đã chứng minh đƣợc rằng: ―Ẩn dụ đóng vai trò then chốt trong kiến tạo thực trạng xã hội và chính trị‖. Trong nghiên cứu của mình, Lakoff và Johnson đã tiến hành nghiên cứu đối tƣợng là thế giới quan của những ngƣời có quan điểm bảo thủ và cấp tiến ở Mỹ.
Ông tiến hành nghiên cứu và xem xét quan điểm về kiểm soát súng đạn, thuế phí, các luật liên quan đến nhân quyền, môi trƣờng và nghệ thuật trong một cấu trúc khung tri nhận nhất định [128].