CHƯƠNG 1. PHÂN TÂM HỌC NHƯ MỘT LÍ THUYẾT VĂN HỌC 1. Lược sử về phê bình phân tâm học Phê bình phân tâm học là một trường phái nghiên cứu văn học rất phát triển ở phương Tây đầu thế kỷ XX. Chúng ta đều biết nguồn gốc của phân tâm học không phải xuất phát từ các lí thuyết văn học mà là từ ngành tâm lí, tâm bệnh học của bác sĩ người Áo S.
Những phát hiện về tính dục và mặc cảm Oedipe của Freud đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu nhân văn lúc bấy giờ. Lí thuyết về cổ mẫu (archétype) của K.Jung như là yếu tố cốt yếu của tâm lí học các chiều sâu, nền tảng của vô thức tập thể đã thực sự đã tạo nên sự chú ý trong phê bình văn học. Từ nền tảng lí thuyết của hai nhà bác học này, phân tâm học đã phát triển thành rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau trong phê bình văn học: nghiên cứu văn hóa với tâm bệnh học tộc người (G.Devereux), phân tâm học và Thiền (E.Fromm), phân tâm học và folklore (V.Dundes), nghiên cứu chủ đề (Ch.Bachelard), nghiên cứu tác giả, tác phẩm (M.Bellemin-Noel), người đọc (N. Phê bình phân tâm học như một sự cộng sinh giữa trường phái cấu trúc - kí hiệu học Pháp.
Người khai sinh ra nó là J.Lacan với nhận định nổi tiếng: “Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ”. Phê bình phân tâm học đã được nói đến nhiều ở ta. Nhiều công trình dịch thuật, phê bình đã xuất hiện rải rác trong khoảng trên dưới 20 năm trở lại đây. Nhưng trước đây khá lâu, vào những năm 30 của thế kỉ XX, các nhà phê bình và cả sáng tác đã ít nhiều vận dụng lí thuyết này vào công việc của họ.
Có thể kể Vũ Trọng Phụng với các tác phẩm Làm đĩ, Giông tố, Số đỏ, còn trong phê bình là Trương Tửu với Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương (1936) và cùng năm Nguyễn Văn Hanh với Hồ Xuân Hương: tác phẩm, 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thân thế và văn tài (Aspar, Sài Gòn). Sang những năm 80 trở lại đây, các công trình dịch thuật, ví dụ công trình cấp Bộ do Viện Văn học chủ trì, có mục “Phê bình phân tâm học” dịch của nhiều chuyên gia nước ngoài khá toàn diện và đầy đủ. Trong đó, chương về “Phân tâm học và văn học” đã “đọc” tác phẩm văn học ở các cấp độ của cái vô thức: “Đọc từ khi có phân tâm học”, “Đọc cùng Freud”; “Đọc cái vô thức”; “Đọc con người”; “Đọc một người”; “Đọc văn bản”,… rất phong phú. “Từ việc khám phá các giấc mơ, người ta được dẫn dắt tới trước tiên là phân tích các sáng tạo thi ca, sau đó là các nhà thơ, các nghệ sĩ [.], những vấn đề quyến rũ nhất với tất cả những ai ưng áp dụng phân tâm học” (Freud).
Carl Gustav Jung (1875-1961) là người cùng thời với Freud, một nhà phân tâm học tại Zurich. Lúc đầu, Jung là môn đệ trung thành của chủ thuyết Freud (Freudianism) sau khi tiếp xúc với Freud tại Áo, vào năm 1907. Nhưng sau đó, ông từ chối hoàn toàn chủ thuyết của Freud, cho rằng đó là lý thuyết dục tính đã bị đồng hóa bởi dục tính cá nhân của Freud; và do đó, ông nỗ lực xây dựng một lý thuyết mới, gọi là “tâm lý trị liệu”. Theo đánh giá của Calvin S.
Hall và Gardner Lindzey, trong Theories of Personality, thì Jung luôn luôn sáng tạo trong cách phân tích tâm lý của mình. Với ông, nhân tính (personality) như là một tổng thể bao gồm các mặt của đời như: ý thức, vô thức, cảm thức, cá nhân, xã hội, nữ tính, nam tính, nhân tính, thú tính, tri giác, trực giác, v., tất cả tính chất đó được xem như những tác năng của một “trục nhân tính” (axis of the personality). Do đó, theo Jung, trong nam giới có chứa những nữ tính, trong nữ giới có chứa những nam tính. Tương tự như thế đối với những thú tính (animal nature) và nhân tính (personality) trong cùng một con người.
Cũng từ đó, Jung phân tích bệnh lý qua các hội chứng như: dồn nén (repression), mặc cảm (oedipc), giận dữ, tức tối (truculent), trầm mặc 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. đều xuất sinh từ ý thức tự ngã, những ấn tượng, tri giác, ký ức, cảm xúc. đã qua và bị dồn nén vào vô thức tạo thành những xung năng (pulsion) gây nên trạng thái bất bình, bất an, bực tức, căng thẳng cho dòng chảy của tâm lí. Mặc dù Jung phê bình Freud, như vừa đề cập ở trên, nhưng chúng ta thấy lí thuyết của Jung nhằm vào các hiện tượng tâm lí nhiều hơn là bản chất của tâm lí như ở tâm lí học Freud.
Tuy nhiên, lí thuyết của cả Freud và Jung đều đặt ra những nguyên tắc quan trọng trong lịch sử tâm lý học hiện đại. Phê bình phân tâm học với văn học Thế kỉ XX có thể coi là thế kỉ của phê bình văn học, nhiều lí thuyết phê bình văn học đã ra đời: Trường phái hình thức Nga; Chủ nghĩa cấu trúc; Phê bình Mới; Phê bình ý thức; Phê bình hiện sinh chủ nghĩa; Phê bình huyền thoại;Thi pháp;… trong đó có Phê bình phân tâm học. Phê bình phân tâm học đã có một vị trí quan trọng trong nghiên cứu văn học. Trong một bài viết rất hay “Phân tâm học trong nghiên cứu văn học” của Evelyne Grossman do Nguyễn Thị Từ Huy dịch trên trang Web Lý luận văn học [31] mà chúng tôi lược thuật những điểm cốt yếu dưới đây đã khơi gợi nhiều ý kiến quý báu cho sự triên khai luận văn của chúng tôi.
Theo Evelyne Grossman, diễn giải theo hướng phân tâm học được thực hiện theo hai cách hoặc là tiến hành phân tâm tác giả (phân tâm tiểu sử, phân tâm-phê bình); hoặc là tiến hành phân tâm nhân vật, khi đó ít nhiều người ta xem nhân vật như là những con người thực; hoặc là hình dung rằng sẽ có một “vô thức của văn bản” thuộc về tác phẩm. Tiếp theo, Evelyne Grossman đã nói đến “Sự hiểu biết tâm lý nội tại” trong quan niệm của Freud: nhà văn, nhà thơ có “thiên nhãn”, anh ta sở hữu một con đường trực tiếp dẫn tới vô thức, nhưng lại không nhận biết 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chính nhà phân tâm sẽ vén bức màn bí mật về sự hiểu biết này. Những phân tích của Freud về tác phẩm Œdipe của Sophocle, về Hamlet của Shakespeare, hay về Macbeth, cho thấy một dạng thức thất bại gắn liền với thành công : tại sao phu nhân Macbeth phát điên chỉ đúng vào lúc chồng mình lên ngôi trị vì xứ Ecosse.
Câu trả lời của Freud : đó là vì nỗi sợ hãi trước sự thành công, nỗi sợ hãi ở trong vô thức.Grossman chỉ ra hai trường phái phê bình đã từng áp dụng phân tâm học vào văn học (ở Pháp cũng như ở nước ngoài): trường phái làm việc trên tác giả và tiểu sử tác giả (Marie Bonaparte, Edgar Poe, cuộc đời và sự nghiệp - 1933). Khi đọc tác phẩm của Edgar Poe, Marie Bonaparte đã khám phá hình ảnh người mẹ mất sớm của ông, và cả hình ảnh của vợ ông, Virginia, nàng cũng chết khi còn rất trẻ. Marie Bonaparte chứng minh được bằng cách nào ta có thể tìm thấy cái hình bóng ám ảnh của người mẹ trong toàn bộ tác phẩm của Poe. Và trường phái tập trung vào văn bản (Charles Mauron, người kết hợp cả hai khuynh hướng văn bản và tiểu sử: Những ẩn dụ ám ảnh về huyền thoại cá nhân.
Nhập môn phê bình tâm lí, và Vô thức trong tác phẩm và cuộc đời của Racine). Mauron cho rằng trước hết cần phải hiểu và đánh giá văn bản trong tư cách là văn bản, và văn học trong tư cách là văn học, chứ không phải như một tập hợp các dấu hiệu lâm sàng. Nói cách khác, ông không tìm kiếm các triệu chứng trong tác phẩm. Như vậy, phê bình tâm lý [psychocritique] trước hết là một phương pháp làm sáng tỏ văn bản, một kỹ thuật đọc.
Mauron gọi “ẩn dụ ám ảnh” rốt cuộc tạo thành một “huyền thoại cá nhân” trong đó con người vô thức của nhà văn được biểu hiện, huyền thoại cá nhân này không chỉ giải thích các cấu trúc của tác phẩm mà còn giải thích cả động tính của tác phẩm. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gerard Genette đã phân tích tác phẩm của Mauron trong cuốn Figure I, chương “Psycholecture” [đọc theo lối phân tích tâm lý]. Ông nhận thấy Mauron nghiên cứu về các ẩn dụ ám ảnh và các diễn giải của ông rất phong phú. Genette kết luận: “Phê bình tâm lý đặt ra cho văn học những câu hỏi tuyệt vời, nó cũng tìm thấy ở văn học những câu trả lời tuyệt vời, chúng càng làm cho thái độ của chúng ta đối với tác phẩm trở nên giàu có đa dạng hơn ; phê bình tâm lý chẳng được gì mà phải giấu (hay tự giấu mình) vì thông thường phần hiển nhiên nhất của câu trả lời đã nằm sẵn trong câu hỏi rồi”[12].Grossman đã nhắc tới Didier Anzieu [10], người đã nghiên cứu rất nhiều về vấn đề sự hình thành của công việc sáng tạo của các nhà văn.
Ông cho rằng trong quá trình sáng tạo có một cái gì đó gần gũi với chứng loạn tâm thần, sự khác biệt là ở chỗ: sáng tạo là một chứng loạn tâm thần thành công, nếu có thể nói như vậy. Bài viết của E.Grossman còn dài, nhưng luận văn chỉ tóm lược một số gợi ý quan trọng trên đây cho luận văn của chúng tôi. Tiếp theo đây, luận văn được sự giúp đỡ của người hướng dẫn, sẽ tiếp tục lược thuật về quá trình hình thành và phát triển của phương pháp phê bình này. Jean-Yves Tadié bắt đầu công trình bằng: “Phê bình tưởng tượng, nếu không muốn lang thang ở nơi trống rỗng, thì phải gặp phê bình phân tâm học.
Bachelard sử dụng từ ngữ, nhưng để chuyển hướng ý nghĩa của nó (…). Jean-Pierre Richard, sau khi đã khước từ không chuyển các cảm giác cho sự vật khác ngoài ý thức, đã sử dụng trong các công trình của ông Proust và thế giới cảm xúc và Vi đọc, những khái niệm thuộc về phân tâm học bắt chúng phụ thuộc, mà không sáp nhập chúng vào một hệ thống” [23]. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về lịch sử phê bình phân tâm học đã được ứng dụng vào phân tích văn học đã có các công trình của Anne Clancier, Phân tâm học và phê bình văn học, 1973; Jean Bellemin-Noel, Phân tâm học và Văn học, 1978; Max Milner, Freud và diễn giải văn học, 1980. Khi đề cập đến phê bình phân tâm học, thông thường bao giờ người ta cũng bắt đầu với Freud và các lí thuyết của ông.