CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN QUYỀN MẠNH CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI. Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai. Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước về đất đai. Bất cứ quốc gia nào trên thế giới, dù xác lập hình thức sở hữu tư nhân hay sở hữu toàn dân về đất đai thì Nhà nước đều phải thực hiện việc quản lý đất đai.
Sự quản lý của Nhà nước đối với đất đai mang tính tất yếu, khách quan, bởi vì: Thứ nhất, xuất phát từ vị trí và vai trò quan trọng của đất đai. Đất đai không chỉ tác động trực tiếp đến lợi ích của mỗi con người mà còn có liên quan mật thiết đến lợi ích của cả quốc gia và toàn xã hội. Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chính của một số ngành sản xuất như gạch, ngói, đồ gốm. Đất đai là bộ phận cấu thành nên lãnh thổ quốc gia.
Đất đai là nơi con người sinh sống tập trung lâu dài, xây dựng nhà cửa, các công trình văn hoá, phân bố các ngành kinh tế quốc dân. Mặt khác, đất đai còn là cơ sở để phát triển các hệ sinh thái, là một yếu tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Mặc dù có vai trò vô cùng quan trọng như vậy nhưng đất đai chỉ có thể phát huy được lợi thế vốn có của mình nếu nhận được sự tác động tích cực của con người một cách thường xuyên. Ngược lại, nếu con người tác động vào đất đai một cách tuỳ tiện, tự phát sẽ làm giảm những giá trị to lớn của đất đai.
Vì vậy, việc quản lý, sử lOMoARcPSD|17160101 dụng đất một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả thuộc về trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước có đủ điều kiện và khả năng để thống nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả nước. Thứ hai, xuất phát từ chức năng chủ yếu và thường xuyên của Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị quyền lực do xã hội thiết lập nên, thay mặt xã hội quản lý các hoạt động của xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển theo một trật tự nhất định.
Trong đó đất đai là tài sản chung của xã hội nên cần phải được Nhà nước quản lý. Nhà nước là một tổ chức chính trị - quyền lực, có quyền xây dựng, ban hành và bảo đảm cho pháp luật đất đai được thực hiện một cách nghiêm minh nên trong các phương thức quản lý xã hội của con người thì phương thức quản lý do Nhà nước thực hiện là phương thức quản lý có hiệu quả nhất. Cho nên, tất yếu quản lý nhà nước phải được áp dụng trong lĩnh vực quản lý đất đai - Tài sản quan trọng và quý giá nhất của xã hội. Thứ ba, xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Nhà nước được hình thành và xác lập dựa trên cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội mà đất đai là tư liệu sản xuất chính có giá trị nhất nên Nhà nước phải thực hiện quản lý đất đai. Theo đó, Nhà nước sẽ đại diện toàn dân tiến hành các hoạt động lập, xét duyệt, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phù hợp với các mục tiêu phát triển nền kinh tế xã hội, đáp ứng các yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thứ tư, quản lý Nhà nước về đất đai được xác lập dựa trên những yếu tố lịch sử. Sự phát triển của các triều đại phong kiến ở nước ta luôn khẳng định và đề cao quyền sở hữu tối cao ruộng đất của Nhà nước (mà đại diện là nhà vua), hạn chế hình thức sở hữu tư nhân về đất đai.
Đất đai là đối tượng xâm lấn của các thế lực bên ngoài nên các cuộc chiến tranh cũng chỉ vì đất, vì mở rộng lãnh thổ. Bởi lẽ, đất đai ở nước ta luôn hàm chứa trong đó các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội. Nó phản ánh nguyện vọng và lợi ích của các giai tầng khác nhau trong xã hội. Tuy nhiên, trước tiên và trên hết, đất đai ở nước ta luôn được xác định là lOMoARcPSD|17160101 lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, là tài sản chung của xã hội và của cả cộng đồng.
Trải qua quá trình đấu tranh gian khổ chống ngoại xâm giành độc lập, các thế hệ người Việt Nam đã giữ gìn và bảo vệ vốn đất như ngày nay. Do vậy, đất đai là thành quả của cách mạng, là chủ quyền, là lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc được khai phá và bảo vệ bằng chính mồ hôi xương máu của người Việt Nam nên phải thuộc sở hữu chung của toàn xã hội mà Nhà nước là người đại diện thực hiện việc thống nhất quản lý. Hơn nữa, mặc dù nước ta đã thực hiện đổi mới, đưa nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường nhưng vẫn là một nước nông nghiệp có tốc độ phát triển dân số cao, đại bộ phận dân số là nông dân nhưng tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế giới. Vì vậy, để quản lý và bảo vệ chặt chẽ quỹ đất nông nghiệp vì lợi ích của các thế hệ người Việt Nam hiện tại và tương lai thì Nhà nước phải thực hiện việc quản lý đất đai.
Tóm lại, những điều phân tích trên đây là cơ sở để Nhà nước thực hiện thống nhất quyền quản lý của mình đối với đất đai. Và qua đó cũng khẳng định được sự cần thiết và tầm quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai. Nhà nước quản lý đất đai thống nhất tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và củng cố quốc phòng. Nhà nước phải có những biện pháp hợp lý để việc quản lý đất đai đi vào pháp chế, khai thác hết tiềm năng của đất, không ngừng nâng cao giá trị sử dụng của đất trong sự nghiệp xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới.
Khái niệm chế độ quản lý Nhà nước về đất đai. Kể từ khi Nhà nước thực hiện quản lý đất đai, các nhà nghiên cứu nói chung và giới luật học nói riêng cũng bắt đầu tìm hiểu khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai. Theo giáo trình luật đất đai -Trường đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2001 thì khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai được hiểu: “Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai, đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình đất đai; trong việc phân phối và phân phối lại vốn đất theo quy hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất”. lOMoARcPSD|17160101 Hoạt động quản lý Nhà nước đối với đất đai do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm phát sinh quan hệ giữa các cơ quan này với người sử dụng đất.
Nhà nước ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ đó vận động phù hợp với lợi ích và yêu cầu của Nhà nước. Vì vậy, chế độ quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước đối với đất đai. Các đặc trưng cơ bản của quản lý Nhà nước đối với đất đai: - Hoạt động quản lý Nhà nước đối với đất đai ở nước ta được thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý tối cao đối với toàn bộ lãnh thổ. Cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân là điều kiện quan trọng để Nhà nước thực hiện quyền quản lý thống nhất đối với đất đai.
Nhà nước thực hiện trực tiếp quyền quản lý của mình bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất của các cơ quan quyền lực Nhà nước là Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Các quyền này còn được thực hiện thông qua một hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước là Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, thông qua các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất theo những điều kiện và sự giám sát của Nhà nước. Hơn nữa, để thực hiện quyền quản lý của đại diện chủ sở hữu, Nhà nước còn thông qua việc xây dựng và ban hành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, các tổ chức và cá nhân. Cùng với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước còn tổ chức vận động, tuyên truyền pháp luật đất đai đến từng người dân để nâng cao nhận thức giúp họ xác định được quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
- Hoạt động quản lý Nhà nước đối với đất đai mang tính vĩ mô bao trùm, trong khi việc quản lý đất đai của người sử dụng đất chỉ mang tính chất kĩ thuật nghiệp vụ gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực và diện tích được giao. Nhà nước sẽ quản lý đất đai bằng chính sách, bằng pháp luật, không bị giới hạn bởi bất kỳ lý do gì.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai. Theo luật đất đai 2003, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất đai. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai.