MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Những năm qua tỉnh Bình Dƣơng đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết quả, kinh tế - xã hội của Bình Dƣơng đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng và khá toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hƣớng từ nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp và dịch vụ; GRDP bình quân đầu ngƣời tăng 08 lần so với năm 2005. Bên cạnh lợi ích mang lại từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỉnh cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trƣờng phát sinh nhƣ: lƣợng chất thải gia tăng, (nƣớc thải, khí thải và chất thải rắn); sự suy giảm chất lƣợng nguồn nƣớc, đất và khí; trong đó vấn đề chất thải rắn ngày càng trở nên bức xúc đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt, số liệu thống kê cho thấy lƣợng chất thải rắn đã tăng 2,5 lần so với năm 2010. Hiện nay tại Bình Dƣơng, tất cả các loại chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của ngƣời dân đƣợc bỏ chung và đƣợc thu gom bởi hệ thống thu gom chất thải của tỉnh.
Hệ thống thu gom của tỉnh bao gồm hai nhóm đối tƣợng: hệ thống các tổ rác dân lập, các Công ty tƣ nhân và các xí nghiệp công trình công cộng. Phƣơng thức phân loại chất thải hiện tại chủ yếu là phân loại thủ công. Công nhân đứng dọc theo băng chuyền để lựa ra các thành phần có thể tái chế nhƣ: nylon, nhựa,… cho vào các ô chứa phế liệu tƣơng ứng. Những thành phần chất thải còn lại xử lý bằng làm phân compost và chôn lấp.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc phân loại bằng tay này còn rất kém và hiệu suất chƣa cao, sẽ gây lãng phí nguồn nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ đồng thời gây sức ép lên các bãi chôn lấp phải tiếp nhận lƣợng lớn chất thải làm giảm thời gian hoạt động của các bãi này. Những năm gần đây, công nghệ phân loại chất thải chất thải tại nguồn và sản xuất phân hữu cơ từ rác hữu cơ đang đƣợc chú trọng. Đây là công nghệ phổ biến 1 trên thế giới hiện nay, nhằm tái chế, tái sử dụng chất thải, góp phần giảm thiểu lƣợng phát sinh chất thải rắn và bảo vệ môi trƣờng. Biện pháp xử lý rác thải hữu cơ bằng vi sinh hiện đang đƣợc ƣa chuộng vì có nhiều lợi ích, đồng thời những sản phẩm đầu ra có giá trị kinh tế cao.
Những giống vi sinh đang đƣợc sử dụng hiện nay đã bắt đầu chƣa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế hiện nay thêm vào đó đa phần chủng vi sinh đƣợc nhập từ nƣớc ngoài có giá thành cao. Việc sử dụng chế phẩm vi sinh tại địa phƣơng sẽ đảm bảo điều kiện phù hợp nhất cho sự sinh trƣởng của vi sinh đồng thời tiết kiệm chi phí nhập khẩu từ nƣớc ngoài và khuyến khích sự nghiên cứu trong công nghệ sinh học nƣớc nhà. Chính vì những lý do đó mà tôi thực hiện đề tài: “Nâng cao hiệu quả phân loại chất thải sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn tỉnh Bình Dương và ứng dụng chế phẩm TDM.EM trong quá trình ủ phân compost”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: - Góp phần giải quyết vấn đề quản lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng.
Mục tiêu cụ thể: - Đề xuất nâng cao hiệu quả hệ thống phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng, làm cơ sở để phát triển đồng bộ trên quy mô toàn tỉnh. - Thử nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh TDM.EM đã đƣợc nghiên cứu để xử lý chất thải hữu cơ của chƣơng trình phân loại rác tại nguồn. Tính mới của đề tài Đề tài này đƣợc thực hiện nhằm đề xuất một hệ thống Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn ở Bình Dƣơng một cách thích hợp mà từ trƣớc đến nay vấn đề này vẫn chƣa đƣợc giải quyết một cách thỏa đáng. 2 Việc sử dụng vi sinh trong xử lý chất thải hữu cơ tạo sản phẩm compost là phƣơng pháp xử lý chất thải hiệu quả và đang đƣợc quan tâm nghiên cứu hiện nay.
Trong đó chế phẩm TDM.EM cho hiệu quả khả quan và nhiều hƣớng để phát triển hơn nữa. Chế phẩm TDM.EM đƣợc sử dụng trong đề tài do Th.S Trần Ngọc Hùng giảng viên trƣờng Đại học Thủ Dầu Một cùng các cộng sự đã nghiên cứu sản xuất gọi tắt là chế phẩm vi sinh TDM. Thời gian và địa điểm - Địa điểm: Chƣơng trình phân loại rác tại nguồn (PLRTN) đƣợc thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng với hai quy mô cấp tỉnh và cấp huyện theo quyết định số 458/QĐ-UBND ngày 28/02/2017 của UBND tỉnh Bình Dƣơng về việc ban hành kế hoạch thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng. Thử nghiệm tính hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm TDM.EM trong xử lý chất thải đƣợc thực hiện tại trƣờng Đại học Thủ Dầu Một.
- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 1/ 2017 đến tháng 1/ 2019. Phạm vi và đối tƣợng Đề tài đƣợc thực hiện dựa trên chƣơng trình thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng, chất thải sau phân loại sẽ đƣợc thu gom và xử lý tại Khu liên hợp Xử lý chất thải rắn Nam Bình Dƣơng. Trên cơ sở đó chất thải thực phẩm hữu cơ sẽ đƣợc xử lý bằng phƣơng pháp ủ phân compost có bổ sung chế phẩm vi sinh. - Thử nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh TDM.EM tại trƣờng Đại học Thủ Dầu Một để xử lý chất thải hữu cơ từ chƣơng trình phân loại rác tại nguồn làm phân compost.
3 - Phạm vi, quy mô thực hiện: Đề tài thực hiện chƣơng trình PLRTN với quy mô cấp tỉnh (Theo quyết định 458/QĐ-UBND ngày 28/02/2017 của UBND tỉnh Bình Dƣơng). Quy mô cấp tỉnh là các đơn vị dịch vụ kinh doanh mua sắm và khám chữa bệnh trên tuyến đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng từ bệnh viện Quốc tế Becamex (Lái Thiêu – Thuận An) chạy dọc theo tuyến Đại lộ Bình Dƣơng – Phạm Ngọc Thạch – Trung tâm hành chính tập trung của tỉnh. - Bệnh viện Đa khoa khoa Quốc tế Becamex: Dịch vụ khám chữa bệnh. - Siêu thị Lotte Mart Bình Dƣơng: Kinh doanh mua sắm, vui chơi, ăn uống - Trung tâm mua sắm AEON MALL Bình Dƣơng Canary: Kinh doanh mua sắm, vui chơi, ăn uống - Chi nhánh Công ty TNHH MM Mega Market tại Bình Dƣơng: Kinh doanh mua sắm - Trung tâm thƣơng mại Becamex: Kinh doanh mua sắm, vui chơi, ăn uống, văn phòng cho thuê - Khách sạn Becamex: Kinh doanh căn hộ lƣu trú ngắn hạn và dài hạn - Chung cƣ Horizon: Kinh doanh căn hộ lƣu trú ngắn hạn và dài hạn - Siêu thị Co.op mart Bình Dƣơng 2: Kinh doanh mua sắm, vui chơi, ăn uống - Khách sạn The Mira: Kinh doanh căn hộ lƣu trú ngắn hạn và dài hạn - Siêu thị Big C Bình Dƣơng: Kinh doanh mua sắm, vui chơi, ăn uống - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dƣơng: Dịch vụ khám chữa bệnh - Chung cƣ Sora garden: Kinh doanh căn hộ lƣu trú ngắn hạn và dài hạn - Trung tâm hành chính tập trung tỉnh Bình Dƣơng: Cơ quan hành chính Đây là các đơn kinh doanh lớn, có lƣợng khách hàng tham quan đông dễ thực hiện tuyên truyền và quảng bá hình ảnh chƣơng trình phân loại rác tại nguồn.
Lƣợng chất thải phát sinh đủ nhiều để vạch tuyến thu gom và phân tích thành phần chất thải. 4 Ngoài ra, đề tài còn nhận xét chung chƣơng trình PLRTN quy mô cấp huyện (Theo quyết định 458/QĐ-UBND ngày 28/02/2017 của UBND tỉnh Bình Dƣơng) thực hiện 1 số khu phố/ấp trên địa bàn: Thị xã Thuận An, Thị xã Dĩ An, Thị xã Bến Cát, Thành phố Thủ Dầu Một, cụ thể nhƣ sau: - Thị xã Thuận An: Khu phố Nguyễn Trãi, phƣờng lái Thiêu gồm có 1650 hộ (hộ dân, cơ quan nhà nƣớc, tổ chức, cơ sở kinh doanh, quán ăn,…) - Thị xã Dĩ An: Khu phố nhị đồng 2, Phƣờng Dĩ An gồm có 1.264 hộ (hộ dân, tổ chức, cở sở kinh doanh, quán ăn,…) - Thị xã Bến Cát: ấp Bến Giảng, ấp Phú Thuận và ấp An Thuận thuộc xã Phú An gồm có 1. - Thành phố Thủ Dầu Một: phƣờng Hiệp An gồm có 4.000 hộ (hộ dân, cơ sở kinh doanh, trƣờng học, nhà hàng, khách sạn, chợ,…) Sự cần thiết của đề tài Theo báo cáo của UBND tỉnh Bình Dƣơng, trung bình mỗi ngày trên địa bàn tỉnh thải ra khoảng 1. Hiện tại, theo thống kê 6 tháng đầu năm 2019 của Khu liên hợp Xử lý chất thải rắn Nam Bình Dƣơng trung bình lƣợng chất thải phát sinh tên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng hàng ngày khoảng 1.
CTRSH phát sinh chủ yếu từ các khu đô thị, các hộ gia đình, nhà kho, chợ, trƣờng học, bệnh viện, cơ quan hành chính, khu công trƣờng, khu công cộng, các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp và các hoạt động khác… Thành phần tại nguồn phát sinh: chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học: 67,25%; giấy và carton: 6,07%; nilon và nhựa: 6,8%; kim loại và lon: 0,46%;…; Các thành phần khác: 16,34%. Trong đó, thu gom, vận chuyển, xử lý đƣợc 1.đ, tái chế, tái sử dụng: 200 tấn/ng. Với mục tiêu đến năm 2020 sẽ phân loại tại nguồn 80% khối lƣợng CTR; thu gom và xử lý đạt 95% tổng lƣợng CTR sinh hoạt, trong đó 85% đƣợc tái chế, tái sử 5 dụng (Quyết định số: 2474/QĐ-UBND, 2012). Quyết định này tạo một tiền đề thuận lợi cho việc thu gom, phân loại chất thải và sản xuất phân compost tại xí nghiệp xử lý chất thải.
Phân loại chất thải là một xu thế phát triển tất yếu của tỉnh Bình Dƣơng trong những năm sắp tới, đề tài hy vọng sẽ hoàn thiện một hệ thống quản lý chất thải sinh hoạt từ nơi phát sinh đến xử lý chất thải tạo sản phẩm bày bán trên thị trƣờng, để hƣớng tới năm 2020 trở thành đô thị loại I trực thuộc Trung ƣơng. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học Đánh giá hiện trạng chất thải sinh hoạt dựa trên các dữ liệu có cơ sở khoa học, các số liệu thống kê thực tế và mới nhất tại các đơn vị tham gia thí điểm chƣơng trình PLRTN trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng. Các phƣơng pháp quản lý đƣợc đề xuất dựa trên cơ sở lý thuyết thu gom, lƣu trữ, vận chuyển và xử lý CTSH trên thế giới, … đã đƣợc sử dụng tại các nƣớc phát triển, nay đƣợc áp dụng trong đề tài kết hợp với điều kiện thực tế của tỉnh. Chế phẩm vi sinh TDM.EM đƣợc sử dụng giúp giảm mùi hôi, giảm thời gian xử lý chất thải.