Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về cây ngô 1. Đặc điểm sinh học của cây ngô Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L, thuộc chi Zea, họ Hoà thảo (Poaceae), bộ Hoà thảo (Poales).
Từ loài Zea mays Line, dựa vào cấu trúc nội nhũ của hạt và hình thái bên ngoài, ngô được phân thành các loài phụ: ngô đá rắn, ngô răng ngựa, ngô nếp, ngô đường, ngô nổ, ngô bột, ngô nửa răng ngựa. Từ các loài phụ dựa vào màu hạt và màu lõi ngô được phân chia thành các thứ. Ngoài ra, ngô còn được phân loại theo sinh thái học, nông học, thời gian sinh trưởng và thương phẩm [7]. Ngô có lá hình mũi mác rộng bản, dài 50–100 cm và rộng 5-10 cm.
Thân cây thẳng, cao 2–3 m, nhiều mấu, các lá tỏa ra từ mỗi mấu với bẹ nhẵn. Dưới các lá này và ôm sát thân cây là các bắp. Từ các đốt ở phía dưới sinh ra một số rễ [7]. Các bắp ngô là các cụm hoa cái hình bông được bao bọc trong một số lớp lá, và được các lá này bao chặt vào thân đến mức chúng không lộ ra cho đến khi xuất hiện các râu ngô.
Râu ngô là các núm nhụy thuôn dài, ban đầu màu xanh lục và sau đó chuyển dần sang màu hung đỏ hay hung vàng. Hạt ngô là dạng quả thóc với vỏ quả hợp nhất với lớp áo hạt. Các hạt ngô bám chặt thành các hàng tương đối đều xung quanh một lõi trắng để tạo ra bắp ngô. Mỗi bắp ngô dài khoảng 10- 25cm, chứa khoảng 200- 400 hạt.
Các hạt có màu như ánh đen, xám xanh, đỏ, trắng và vàng. Khi được nghiền thành bột, ngô tạo ra nhiều bột và ít cám hơn so với lúa mì [7]. Ngô nếp (Zea mays L. Ceratina Kulesh), là một trong những loài phụ chính của Zea mays L.
Bề ngoài hạt ngô nếp tương tự với ngô đá, nhưng bóng hơn. Lớp ngoài cùng của mặt cắt nội nhũ không có lớp sừng như ở ngô tẻ, có tính chất quang học giống như lớp sáp. Do vậy, ngô nếp còn có tên gọi 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác là ngô sáp. Tinh bột của ngô nếp chứa gần như 100% amylopectin, trong khi ngô thường chỉ chứa 75% amylopectin và 25% amylase [7].
Theo Peter Thompson (2005), đặc tính của ngô nếp được quy định bởi đơn gen lặn đó là gen wx [52]. Ngô có 10 cặp nhiễm sắc thể (n=10). Chiều dài tổng cộng của các nhiễm sắc thể là 1500 cM. Một số nhiễm sắc thể của ngô có "bướu nhiễm sắc thể" - các vùng lặp lại cao với vết màu sẫm.
Mỗi bướu riêng biệt là đa hình trong số các giống của cả ngô lẫn cỏ ngô. Barbara McClintock đã sử dụng các bướu này để chứng minh thuyết “Yếu tố di truyền vận động” [66]. Năm 2005, Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) đã xác định trình tự chuỗi bộ gen của ngô. Bộ gen ngô có 50000– 60000 gen nằm rải rác trong 2,5 tỷ base [65].
Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của ngô nếp Ngô nếp được sử dụng chủ yếu làm lương thực và thức ăn cho con người. Khi nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm ngon, giá trị dinh dưỡng cao, dễ hấp thu hơn so với tinh bột của ngô tẻ [68]. Một trong những nguyên nhân là do trong ngô nếp có hàm lượng các amino acid không thay thế như triptophan và lyzin cao. Hàm lượng lipit cao (3,5- 7%) và phụ thuộc vào từng giống, điều kiện tự nhiên.
Lipit được tập trung ở phôi và tầng alơron. Dầu ngô chứa đến 50% axit linoleic liên kết với các glyxerit, axit oleic, panmitic, rixinic. Hàm lượng lipit là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng hạt. Protein của ngô được chia thành ba loại chính: protein hoạt tính (chủ yếu là enzyme), protein cấu trúc và protein dự trữ, trong đó protein dự trữ chiếm tỷ lệ cao nhất.
Hàm lượng protein dao động từ 4,8- 16,6% ở mỗi giống. Lợi dụng tính chất hoà tan của protein trong các dung môi, người ta có thể tách chiết protein tan từ ngô phục vụ cho nhiều mục đích nghiên cứu như đánh giá chất lượng, khả năng chịu hạn. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thân cây ngô được sử dụng chủ yếu để nuôi gia cầm và gia súc: cỏ khô, cỏ ủ chua. Hạt ngô cũng có nhiều ứng dụng trong công nghiệp như: tổng hợp chất dẻo hay vải sợi; sản xuất xi rô chứa nhiều fructose, chưng cất một số dạng rượu.
Ethanol từ ngô cũng được dùng ở hàm lượng thấp (10% hoặc ít hơn) như là phụ gia của xăng làm nhiên liệu cho một số động cơ để gia tăng chỉ số octan, giảm ô nhiễm và giảm mức tiêu thụ xăng (ngày nay gọi chung là "các nhiên liệu sinh học"). Trong nhiều nền văn hóa, người ta sử dụng các món cháo ngô, bánh ngô, bánh mèn mén. Một vài dạng ngô cũng được trồng làm cây cảnh do lá hay bắp nhiều màu, kích thước lớn, bắp dài [65]. Cũng như tình trạng chung trên thế giới, các nghiên cứu về ngô ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào ngô tẻ.
Đối với các giống ngô nếp địa phương, đến nay chỉ có một số ít công trình được công bố [3]. Thời gian gần đây, các nhà tạo giống Việt Nam đã bắt đầu chuyển sang hướng tạo giống nếp lai và đã tạo được một số giống nếp lai không quy ước có triển vọng như các giống lai VN2, MX2, MX4, Bạch ngọc. Trong khi đó, các giống ngô nếp địa phương có ưu điểm chất lượng hạt cao, khả năng chịu hạn và kháng sâu bệnh tốt, có thể gieo trồng trên nhiều loại đất khác nhau đang đứng trên nguy cơ bị suy giảm quỹ gen vì năng suất thường thấp. Vì vậy, việc sưu tập, nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện nguồn gen các giống ngô địa phương là hết sức cần thiết cho công tác giống và bảo tồn nguồn gen quý.
Hạn và phản ứng của cây ngô trước tác động của hạn 1. Hạn và tính chống chịu stress oxy hóa 1. Mối liên quan giữa hạn và stress oxy hóa Hạn đối với thực vật là khái niệm dùng để chỉ sự thiếu nước do môi trường gây nên làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển. Những cây có khả năng duy trì sự phát triển và cho năng suất ổn định trong điều kiện khô hạn gọi là cây chịu hạn và khả năng của thực vật có thể làm giảm thiếu hụt mức độ tổn thương do thiếu nước gây ra gọi là tính chịu hạn.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có hai loại hạn cơ bản: hạn thật (gồm hạn đất, hạn không khí, hạn toàn diện), và hạn sinh lí. Hạn đất là do lượng nước trong đất giảm làm hệ rễ của cây không thể lấy nước từ đất vào tế bào dẫn đến cây có hiện tượng bị héo lâu dài. Hạn đất tác động mạnh lên bộ rễ của cây. Hiện tượng này gây ra các biểu hiện thích ứng tại vùng xảy ra yếu tố cực đoan và ở mức độ cao hơn, biểu hiện thích ứng toàn cơ thể.
Hạn có thể tạo ra những hạt khô, nhăn nheo, không có phẩm chất tốt và thậm chí mất mùa hoàn toàn. Ở ngô sự trỗ cờ và phun râu phải xảy ra đồng thời. Hiện tượng phun râu ngô chậm gắn liền với sự chịu hạn bởi vì râu ngô chứa phần lớn là nước. Chọn giống theo hướng phun râu đồng thời (không bị chậm) là phương pháp hữu hiệu để chọn được giống chịu hạn ở ngô ở các vùng Mỹ, Canada [6].
Hạn không khí thường xảy ra ở những vùng gió nóng, nhiệt độ cao (39- 42oC) và độ ẩm thấp <62%. Hạn không khí tác động chủ yếu lên các bộ phận bên trên mặt đất như lá, hoa. Phản ứng của cây theo chiều hướng giảm cường độ thoát hơi nước và như vậy sẽ làm tăng nhiệt độ cơ thể. Đồng thời với tăng nhiệt độ không khí, yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình hình thành hạt phấn và thụ phấn của ngô.
Cần phải nhấn mạnh rằng trong quá trình phát triển của cây có những giai đoạn bị khủng hoảng: bắt đầu từ lúc hình thành các cơ quan sinh sản, kết thúc vào lúc thụ phấn hoàn toàn. Đây là thời kỳ cây cần nước nhất và kém chịu đựng nhất. Hạn xảy ra trong thời gian này làm giảm năng suất một cách đáng kể. Hạn sinh lí khác với hai loại hạn trên ở chỗ môi trường vẫn đầy đủ nước nhưng rễ cây không có khả năng hút nước do mất cân bằng áp suất thẩm thấu giữa môi trường nội bào và ngoại bào.
Nước tồn tại ở dạng liên kết trong tế bào. Màng tế bào là nơi bị tổn thương đầu tiên khi xảy ra mất nước. Thiếu nước nhẹ chỉ làm thay đổi một phần cấu trúc của protein, lipit trên màng tế bào. Lớp lipit cấu trúc chuyển từ trạng thái hoạt hoá tinh thể lỏng sang dạng gel không còn linh hoạt, và kém 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất là chuyển sang trạng thái lục lăng ngược.
Trong trạng thái cuối cùng màng lipit kép bị gián đoạn, các phức enzyme bị phá hủy, dịch tế bào có thể dò rỉ ra ngoài. Tiếp sau đó, các hệ thống màng khác trong tế bào như màng lưới nội chất, màng lục lạp, màng ty thể cũng bị thiếu nước và không còn khả năng trao đổi chất [6]. Hiện tượng nóng hạn còn tạo ra các gốc tự do của hydroxyl, superoxide. oxy hoá các đại phân tử và làm mất hoạt tính của chúng.
Ngoài ra, các sản phẩm phân hủy của các đại phân tử và nồng độ ion cao khi mất nước gây độc cho tế bào. Khi bắt đầu mất nước sự tổng hợp protein được tăng cường, nhưng hạn kéo dài sẽ xảy ra hiện tượng thủy phân protein. Stress oxy hóa xảy ra trong điều kiện hạn tạo ra hàng loạt các dạng oxy hoạt hóa (ROS) gây tổn thương, thậm chí làm chết tế bào [45]. Những yếu tố môi trường gây stress oxy hóa có thể kể đến là: nồng độ ozon hoặc SO2 quá cao, chất diệt cỏ bị ôxy hóa, kim loại nặng, hạn, nóng, lạnh, tổn thương cơ học, UV, chiếu sáng liên tục, sự xâm nhập của mầm bệnh, sự lão hóa.
Ở những điều kiện này, chúng thúc đẩy hiện tượng ức chế quang hợp [26]. Các dạng oxy hoạt hóa (ROS) và hệ thống bảo vệ cây trồng khỏi tác động của của oxy hóa ROS tồn tại trong tự nhiên và cơ thể sống có thể kể đến là: oxy phân tử (O2); oxy dạng đơn (singlet oxy), superoxide anion (O 2-), hydro peroxide tự do (OH*), hydro peroxide (H2O2), pehydroxyl tự do (O2H*), ozon (O3).