Chương 1: Lý luận chung về phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất; Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn việc phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; Chương 3: Kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm di sản thừa kế Thuật ngữ “Di sản” là một từ Hán Việt, đồng thời là một từ ghép được ghép bởi hai từ “di” và “sản”.
Trong đó, “di” được hiểu là sự truyền lại, lưu lại, chuyển sang, để lại cho đời sau; còn “sản” là kết quả do con người tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất, dùng để chỉ gia tài, sản nghiệp mang tính tổng thể của những tài sản trong một khối [33, tr. Như vậy, di sản được hiểu là tài sản của người chết để lại cho người sống khác. Còn thuật ngữ thừa kế, với cách hiểu ban sơ và tổng quan nhất, quá trình dịch chuyển tài sản từ người đã chết cho người còn sống chính là thừa kế [33, tr. Nếu nhìn nhận một cách khái quát nhất theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì: “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người sống.
Thừa kế luôn gắn với sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu” [36, tr. Hoặc có thể định nghĩa: “Thừa kế là một quan hệ xã hội tất yếu mà nội dung kinh tế của nó là sự phản ánh quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết sang cho những người khác còn sống” [34, tr. Bên cạnh đó, cũng có thể coi thừa kế là một chế định dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi, quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền nghĩa vụ của người thừa kế [30, tr. Kết hợp giữa hai định nghĩa về di sản và thừa kế nêu trên, có thể hiểu DSTK là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại cho người còn sống.
14 Cho đến ngày nay, khái niệm DSTK vẫn còn nhiều cách tiếp cận khác nhau, tùy thuộc nhiều vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ở Việt Nam, quy định pháp luật về DSTK cũng có sự khác biệt theo từng thời kì lịch sử. Cho đến nay, BLDS Việt Nam chưa có khái niệm chính thức về DSTK mà chỉ có quy định về thành phần của di sản tại Điều 612 BLDS 2015 như sau: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Trong khi đó, “di sản” và “di sản thừa kế” là hai khái niệm khác nhau.
Việc xác định hai khái niệm trên có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến thừa kế. Về vấn đề này, trong khoa học pháp lý đã từng tồn tại những cách hiểu khác nhau qua các thời kì lịch sử: Ở thời kỳ thuộc địa của thực dân Pháp, DSTK bao gồm tài sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại. Theo đó, cùng với việc nhận tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, người thừa kế phải chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài sản mà người chết chưa kịp thực hiện hoặc thực hiện chưa xong với chủ thể khác. Sau khi đã thực hiện xong các nghĩa vụ đó, nếu không còn tài sản thì người thừa kế không được nhận tài sản.
Kể cả trường hợp tài sản của người chết để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản thì người thừa kế cũng phải chịu trách nhiệm vô hạn với các nghĩa vụ đó. Biểu hiện rõ nhất của quan điểm này là quy định “phụ trái tử hoàn” trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ. Tuy nhiên, cách hiểu về DSTK này đã được thay đổi khi Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Cụ thể Điều 10 của Sắc lệnh số 97/S1 quy định con cháu hoặc vợ chồng của người chết không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đấy; trong trường hợp nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng chỉ được quyền đòi nợ trong phạm vi số di sản để lại, không được phép vượt quá [33, tr.
Như vậy, khái niệm DSTK bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi 15 di sản của người chết để lại. Tức là đối với những nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại, người thừa kế không phải dùng tài sản riêng của mình để thực hiện nghĩa vụ thay cho người đã chết, mà nghĩa vụ đó chỉ được thực hiện trong phạm vi di sản họ được hưởng. Bên cạnh đó, nhiều học giả cũng cho rằng DSTK chỉ bao gồm các tài sản của người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản. Tác giả nhận thấy quan điểm này tỏ ra phù hợp nhất tại thời điểm hiện nay, bởi lẽ thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người sống để đảm bảo tính vĩnh viễn và tính tuyệt đối của quyền sở hữu.
Trên tinh thần đó, khoản 1 Điều 615 BLDS năm 2015 đã quy định trừ khi có thỏa thuận khác thì những người hưởng thừa kế chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại. Như vậy, người thừa kế không chỉ thừa kế về quyền đối với di sản mà còn kế thừa cả trách nhiệm thanh toán các khoản nợ do người chết để lại. Có thể thấy, ở đây không phát sinh tư cách chủ thể mới thực hiện nghĩa vụ tài sản, mà người thừa kế chỉ thay người đã chết thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của người đã chết để lại. Sau khi thanh toán nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan đến di sản, nếu vẫn còn tài sản để chia cho những người thừa kế thì phần di sản còn lại này mới được coi là DSTK.
Trái lại, nếu tài sản không còn để chia thừa kế thì việc nhận DSTK sẽ không diễn ra [32, tr. Từ những căn cứ trên, theo cách hiểu tổng quan nhất thì: “DSTK là phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại sau khi đã thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người đó và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế”. Khái niệm di sản thừa kế là quyền sử dụng đất 1. Khái niệm quyền sử dụng đất Ở Việt Nam – một quốc gia theo con đường xã hội chủ nghĩa mà nền tảng là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, không tồn tại sở hữu tư nhân đối 16 với đất đai.
Điều này đã được khẳng định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013, theo đó đất đai không thuộc sở hữu của cá nhân mà thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Điều 197 BLDS năm 2015 và khoản 1 Điều 2 LĐĐ năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 8 năm 2024) tiếp tục khẳng định nguyên tắc hiến định này. Với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu không trực tiếp chiếm hữu đất đai mà trao QSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thông qua các quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ [35, tr. Bằng cách đó, đất đai được đưa vào khai thác, sử dụng để tạo ra của cải vật chất, đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình trong xã hội, đồng thời góp phần phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Như vậy, mặc dù pháp luật hiện hành chưa quy định rõ về khái niệm QSDĐ nhưng có thể hiểu QSDĐ là tất cả những quyền năng mà Nhà nước trao cho các chủ thể sử dụng đất dưới nhiều hình thức khác nhau và được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống pháp luật. Thực tế hiện nay, QSDĐ đang được tiếp cận và hiểu theo một số quan điểm khác nhau [14], cụ thể: (i) Quan điểm thứ nhất: QSDĐ là một quyền năng được tách ra từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai Quan niệm này nhìn nhận QSDĐ một cách đơn giản dựa trên khái niệm quyền sử dụng được quy định tại Điều 179 BLDS năm 2015. Theo đó, QSDĐ được hiểu là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất, và quyền này có thể được chuyển giao cho người khác thông qua thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Quan niệm này là không chính xác bởi trên thực tế khi Nhà nước trao QSDĐ cho các chủ thể thì không chỉ trao cho họ mỗi một quyền là quyền sử dụng (quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất) mà còn cả các quyền khác tùy từng trường hợp cụ thể.
Như vậy, 17 ngoài quyền sử dụng, các chủ thể còn được phép định đoạt đất thông qua các hình thức giao dịch như chuyển nhượng, chuyển đổi, để lại thừa kế, góp vốn, tặng cho hoặc từ bỏ QSDĐ. (ii) Quan điểm thứ hai: QSDĐ là một loại quyền tài sản Quan điểm này đang được phổ biến hiện nay, được hình thành từ quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015, theo đó: “Quyền tài sản là quyền giá trị được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Về cơ bản, quan niệm này tỏ ra phù hợp hơn vì QSDĐ có đầy đủ các yếu tố, đặc điểm của một quyền tài sản, cụ thể: Thứ nhất, QSDĐ là quyền của các chủ thể được thực hiện trên một thửa đất cụ thể, được xác định ranh giới rõ ràng (thỏa mãn tiêu chí quyền tài sản là quyền đối với một tài sản). Thứ hai, chủ thể có QSDĐ được phép khai thác những thuộc tính có ích của đất để tạo ra của cải vật chất hoặc thực hiện các giao dịch như chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp đất để thu lại một lợi ích vật chất nhất định (thỏa mãn tiêu chí quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền).
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc thừa nhận QSDĐ là một quyền tài sản đơn thuần thì chưa đầy đủ, chưa chính xác và tất yếu sẽ dẫn đến một số hệ quả không mong muốn.