Đặt vấn đề Phân cấp, phân quyền là một trong những nội dung cơ bản của tổ chức nhà nước ở các quốc gia trên thế giới, trong đó phân cấp là quá trình chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ CQTW cho các CQĐP. Tùy vào điều kiện thực tế tại mỗi quốc gia mà có các hình thức phân cấp, phân quyền khác nhau, nhưng tựu trung lại được phân chia thành 3 lĩnh vực chính là: phân cấp về chính trị, phân cấp hành chính, phân cấp về tài khóa. 3 lĩnh vực này tác động qua lại lẫn nhau từ đó tác động đến hệ thống và phân chia quyền hạn trách nhiệm giữa CQTW và CQĐP, trong đó việc phân cấp tài khóa được xem xét tập trung khía cạnh phân cấp quyền hạn và trách nhiệm giữa CQTW và CQĐP về lĩnh vực ngân sách. Lợi ích to lớn từ phân cấp tài khóa đã được nhiều nước trên thế giới kiểm chứng, nó không chỉ là công cụ để chính quyền các địa phương chủ động trong điều hành, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội tại địa phương mình, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân; mà còn tạo ra sự cạnh tranh tích cực giữa các địa phương, các đơn vị sử dụng ngân sách thông qua cung cấp hàng hóa dịch vụ công hiệu quả, góp phần cải thiện phúc lợi cho công chúng.
Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia cũng cho thấy việc mở rộng phân cấp tài khóa sẽ thực sự có hiệu quả trong điều kiện các địa phương phải nâng cao năng lực quản lý, tính trách nhiệm và công khai minh bạch trong việc quản lý và sử dụng NSĐP. Tại Việt Nam, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên ban hành ngày 09 tháng 11 năm 1946 đã chủ chương thực hiện phân cấp quản lý giữa CQTW và CQĐP. Xu hướng đẩy mạnh phân cấp tài khóa cũng đã được thể hiện trong những năm gần đây, nhất là từ khi Luật NSNN 2002 được ban hành và thực hiện. Tuy nhiên, ngay cả đến Luật NSNN 2015, nhìn chung phân cấp tài khóa vẫn còn nhiều bất cập.
Đặc biệt, với nội dung phân cấp như Luật hiện hành, chưa tạo được động lực cho các địa phương tự cân đối ngân sách, cũng chưa tạo được sức ép đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách phải nỗ lực hơn, NSTW vẫn còn đang cân đối thay cho NSĐP. 2 Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam của cả nước, với thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, ….và là địa phương có số thu NSNN hàng nămluôn nằm trong nhóm tỉnh có số thu cao của cả nước (đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Với ưu thế trên, tỉnh đã tự cân đối ngân sách để tự đảm bảo nhiệm vụ chi ngân sách trên địa bàn theo phân cấp, đồng thời dành phần lớn nguồn lực nhân sách nộp về ngân sách Trung ương để thực hiện nhiệm vụ cân đối ngân sách chung của cả nước (tỷ lệ phân chia nguồn thu ngân sách giữa NSTW và ngân sách tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu qua các giai đoạn: Giai đoạn 1997-2003 là 52% cho NSTW và 48% cho NSĐP; Giai đoạn 2004- 2006 là 58% cho NSTW và 42% cho NSĐP; Giai đoạn 2007-2010 là 54% cho NSTW và 46% cho NSĐP; Giai đoạn 2011-2016 là 56% cho NSTW và 44% cho NSĐP; Giai đoạn 2017-2020 là 34% cho NSTW và 64% cho NSĐP). Song hành với thuận lợi nêu trên là khó khăn và thách thức khi có nhiều mâu thuẫn cần giải quyết như: mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội với nguồn lực được phân cấp còn hạn hẹp; mâu thuẫn giữa nỗ lực nâng cao chất lượng cung cấp hàng hóa dịch vụ công với thẩm quyền quyết định ngân sách hạn hẹp … Bên cạnh đó, với sự suy giảm kinh tế trong thời gian qua, cùng với việc phân cấp tài khóa chậm được sửa đổi bổ sung đã dẫn tới ngân sách tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được hưởng trong 03 năm 2015, 2016, 2017 không đạt dự toán giao, ảnh hưởng đến điều hành quản lý ngân sách và phát triển kinh tế của tỉnh.
Xuất phát từ thực tế quản lý và ý nghĩa nêu trên, đề tài “Phân cấp tài khóa ở Việt Nam-trường hợp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” được chọn nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Luận án nghiên cứu “Phân cấp tài khóa ở Việt Nam: trường hợp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” được chọn nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá tác động của quy định phân cấp tài khóa hiện hành đến quản trị ngân sách ở cấp CQĐP, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách hoàn thiện quy định về phân cấp tài khóa ở Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu: Với mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận án sẽ trả lời câu hỏi nghiên cứu: “Phân cấp tài khóa ở Việt Nam nên được điều chỉnh như thế nào nhằm tạo động lực cho những địa phương tự cân đối được ngân sách, tạo sức ép cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để cùng hướng đến mục tiêu cung cấp hàng hóa dịch vụ công tốt hơn?”. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu 1.
Đối tượng nghiên cứu Tác giả chọn phân cấp tài khóa ở Việt Nam và lấy trường hợp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong giai đoạn 1997-2017 để làm trường hợp nghiên cứu. Phạm vi thu thập dữ liệu - Thời gian: từ năm 1997 đến hết năm 2017. - Về không gian : địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành trên cơ sở phân tích định tính thông qua lược khảo các nghiên cứu trước về khung lý thuyết về phân cấp tài khóa như: Mô hình “bỏ phiếu bằng chân” của tác giả Charles Tiebout (1956), Danh mục tùy chọn của Stigler (1953), Mô hình tương đồng tài khóa của Olson (1969), Mô hình phi tập trung hóa của (Oates, 1972), Jorge Martinez Vazquez (2004),.
và kinh nghiệm phân cấp tài khóa ở một số quốc gia trên thế giới làm cơ sở để bình luận về các nội dung phân cấp tài khóa được quy định trong Luật NSNN hiện hành của Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. Dùng thực tiễn tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu như một ví dụ minh họa cho phần phân tích này. Với cách tiếp cận đó, đề tài được thực hiện theo quy trình sau: - Khái quát lý thuyết về phân cấp, phân cấp tài khóa giữa CQTW và CQĐP. 4 - Tìm hiểu các kinh nghiệm về phân cấp tài khóa của các quốc gia trên thế giới.
- Dùng khung lý thuyết và kinh nghiệm về phân cấp tài khóa nói trên để bình luận về các nội dung phân cấp tài khóa được quy định trong Luật NSNN Việt Nam các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. Ví dụ minh họa cho phần phân tích này là thực trạng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu từ năm 1997 đến năm 2017. - Từ đó, đề xuất các giải pháp khuyến nghị hoàn thiện phân cấp tài khóa tại Việt Nam. Đặc biệt, các kiến nghị tập trung vào mục tiêu: tạo động lực cho những địa phương tự cân đối được ngân sách, tạo sức ép cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để cùng hướng đến cung cấp hàng hóa dịch vụ công tốt hơn.
Cấu trúc luận văn. Giới thiệu Chương 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm của một số quốc gia về phân cấp tài khóa Chương 3. Thực trạng phân cấp tài khóa ở Việt Nam - trường hợp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 1997-2017.
Nhận xét chung và một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách phân cấp tài khóa ở Việt Nam. 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ PHÂN CẤP TÀI KHÓA 2. Lý thuyết về phân cấp và phân cấp tài khóa 2. Lý thuyết về phân cấp Xuất phát từ thực tiễn quản lý, điều hành đất nước, các quốc gia trên thế giới dù theo cấu trúc mô hình nhà nước đơn nhất hay mô hình nhà nước liên bang đều thành lập bộ máy nhà nước.
Mô tả tổ chức bộ máy nhà nước của một quốc gia NHÀ NƯỚC Cơ quan Cơ quan Cơ quan lập pháp hành pháp tư pháp Chính quyền Trung ương Chính quyền Địa phương Nguồn: WorldBank, (2006). Để vận hành bộ máy nhà nước, việc phân cấp, phân quyền là tất yếu xảy ra, trong đó phân cấp là nội dung quan trọng của quản trị nhà nước, phản ánh mối quan hệ giữa CQTW với CQĐP.Tùy vào điều kiện thực tế tại mỗi quốc gia mà có các hình thức phân cấp khác nhau, nhưng tựu trung lại được phân chia thành 3 lĩnh vực chính là: phân cấp về chính trị, phân cấp hành chính, phân cấp về tài khóa. 6 (i) Phân cấp chính trị là việc chuyển giao một phần quyền và nghĩa vụ chính trị từ CQTW xuống cho CQĐP thực hiện. Việc chuyển giao này nhằm để CQĐP có những quyền quyết định trọng việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Đồng thời, tạo điều kiện để người dân địa tham gia vào việc xây dựng và thực thi các chính sách của quốc gia. (ii) Phân cấp về hành chính là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Phân cấp hành chính thể hiện ở 3 cấp độ là tản quyền, ủy quyền, phân quyền, trong đó: Tản quyền là việc chuyển giao quyền lực thực thi một số nhiệm vụ từ CQTW cho các bộ phận hay cơ quan của CQTW đóng tại địa phương, song quyền lực pháp lý vẫn thuộc về CQTW. Đây là cấp độ thấp nhất trong phân cấp, bởi việc chuyển giao quyền chỉ diễn ra trong nội bộ chính quyền cấp Trung ương, tuy nhiên về khía cạnh khác thì việc phân cấp này vẫn cho phép chính quyền cấp địa phương có một số quyền tự do nhất định như lập kế hoạch, ra quyết định trên cơ sở các chỉ thị, hướng dẫn của Trung ương cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
Ủy quyền là việc chính quyền cấp trên chuyển giao cho cấp dưới quyền quyết định và thực hiện các nhiệm vụ được xác định rõ ràng, nhờ đó cấp dưới có sự tự chủ lớn hơn trong công việc, nhưng vẫn có trách nhiệm, báo cáo hoạt động của mình cho cấp trên ủy quyền. Phân quyền là việc CQTW chuyển giao một số quyền hạn và chức năng nhất định cho CQĐP theo luật định.