Chương 1: Tạp chí Nam Phong trong bối cảnh văn hóa và văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX 20 Chương 2: Chủ bút Phạm Quỳnh và mảng bài viết, dịch trên Nam Phong về văn học truyền thống Chương 3: Nhà trước tác Phạm Quỳnh với tư cách tác giả, viết về văn học trung đại CHƢƠNG 1: TẠP CHÍ NAM PHONG TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX. Giai đoạn giao thời, giao thoa mới – cũ Bước sang thế kỷ XX, bắt đầu diễn ra quá trình nền văn học Việt Nam hoà nhập vào môi trường văn học thế giới, văn học truyền thống bị phân rã và diễn ra quá trình tái cấu trúc nền văn học theo mô hình văn học Châu Âu. Để định danh cho giai đoạn văn học này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều cách gọi khác nhau. Nhóm Lê Quý Đôn từ rất sớm (1957) cũng nói: “Quang cảnh xã hội ta cuối thế kỉ XIX bày ra tất cả sự hỗn độn của một xã hội giao thời, mất hướng”.
Đầu những năm 60, Phạm Thế Ngũ coi “khoảng 1862 - 1907 là một thời chuyển tiếp” nhưng ở chỗ khác ông lại dùng khái niệm “lúc giao thời”. Dù rằng khái niệm “giao thời” đã được người đương thời sử dụng từ đầu thế kỉ XX và “giao thời” được Phạm Thế Ngũ dùng với nghĩa là thời đại, thời cuộc hơn là giai đoạn văn học. Trong giáo trình Văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỉ XX, Trần Ngọc Vương nhận định giai đoạn văn học này là giai đoạn giao thời nhìn từ góc độ ngôn ngữ văn học, đội ngũ tác giả, đề tài chủ đề, hình tượng trung tâm và thể loại. Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử Trần Đình Hượu cho rằng: “thực tế lớn nhất của cuộc sống là đất nước đã mất vào tay quân giặc” và “đất nước đang đi vào con đường tư sản hoá”[46, 20].
Và: “Sự đổi thay bắt đầu với việc đổi thay vị trí 21 của cung đình và nông thôn so với thành thị tư bản chủ nghĩa, của nhà nho và người nông dân - những nhân vật nông thôn - so với người thị dân” [46, 25]. Từ đó, ông chỉ ra tính chất văn học giai đoạn giao thời: “tính chất giao thời đó biểu hiện ở sự tồn tại song song của hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác, hai công chúng với hai quan niệm văn học, hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi của nền văn học mới [.], nền văn học cũ tuy đã ở trên đà suy tàn nhưng vẫn còn giữ một vị trí đáng kể, vẫn còn có tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của văn học dân tộc” [46, 29]. Văn học giai đoạn giao thời đổi mới mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa. Văn học thoát khỏi những đặc trưng của văn học trung đại và tạo nên những đặc điểm, tính chất mới của một nền văn học hiện đại.
“Có thể nói văn học Việt Nam giống như người chạy đua đường trường, dọc đường, lỡ nghỉ lại và ngủ quên quá lâu trong một thung lũng khuất nẻo của chế độ phong kiến, nay bừng tỉnh dậy, trước sự thôi thúc của thời đại, phải mở nước rút ở độ cao nhất, mong đạt tới đích mà không đến nỗi quá chậm trễ so với mọi người”2. Giao lưu và tiếp xúc với văn hóa phương Tây đặc biệt là lĩnh vực văn hóa, văn học Pháp đã đem lại cho văn học Việt Nam những bước phát triển về chất. Văn học Việt Nam đã tiếp thu những điều hoàn toàn mới mẻ, hoàn toàn khác biệt về mặt văn hóa trước đây nhưng vẫn duy trì bản chất và phát triển dưới một trình độ cao hơn, hiện đại hơn (sự vượt gộp dépassement). Cuộc tiếp xúc với văn hóa Pháp diễn ra gần một thế kỉ (1858 – 1945) nhưng đã đem lại những bước chuyển mình mới cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Hiện đại hóa văn học là một yêu cầu khách quan và thời đại. Nó là một bộ phận, một phương diện quan trọng của công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung. Hiện đại hóa văn học còn là nhu cầu tự thân của chính nền văn học 2 Khái quát về văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Đăng Mạnh, Sách Giáo khoa Văn 11 tập 1, Nxb Giáo dục, 2000, trang 63. 22 nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ của xã hội.
Chính sự tương tác của hai yếu tố khách quan và chủ quan đó mà hiện đại hóa văn học phát triển nhanh. Nội dung của hiện đại hóa diễn ra trên mọi mặt và ở nhiều phương diện khác nhau mà trước hết là sự thay đổi về quan điểm văn học từ văn chương chở đạo và thơ nói chí của thời văn học trung đại chuyển sang quan điểm văn chương như một hoạt động nghệ thuật đi tìm và sáng tạo cái đẹp. Từ văn chương răn đời chuyển sang văn chương để hiểu đời, để nhận thức và khám phá hiện thực. Trước đây quan điểm văn học nhà nho xưa bị chi phối bởi quan điểm “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”.
Những quan điểm này ảnh hưởng sâu rộng trong đời sồn văn học hàng nghìn năm, xuyên suốt trong quá trình hoạt động văn học như Nguyễn Đình Chiểu : “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Viết văn, làm thơ để nêu gương học hỏi, giáo lí nhưng thời kì này quan điểm văn học có sự thay đổi: viết văn không để thuyết giáo mà khám phá hiện thực đời sống và nhận thức con người, không còn tình trạng văn sử triết bất phân như thời kì trung đại. Quan niệm về con người cũng có thay đổi, con người trong văn học trung đại là con người xã hội, con người công dân còn ở đây chủ yếu nhấn mạnh đến con người cá nhân. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa ở nước ta, tạo ra những biến đổi to lớn. Trong đời sống diễn giao thời về nhiều mặt: trước hết phải kể đến về kinh tế mà biểu hiện cụ thể là sự ra đời, phát triển mau chóng của đô thị ở Việt Nam.
Đô thị là nơi tích tụ và phản ánh những chuyển biến của xã hội Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa, là nơi cửa ngõ giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới, là nơi mà những ảnh hưởng phương Tây được thể 23 hiện rõ nhất. Ở đó, xuất hiện những tầng lớp mới của xã hội, những viên chức, những trí thức… với lối sống tư sản hóa đang mau chóng hình thành. Chính những tầng lớp xã hội ấy đã đem đến một luồng gió tinh thần mới trong đời sống. Bên cạnh đó, sự phát triển của đô thị chính là một trong những tiền đề quan trọng cho quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà.
Đô thị không chỉ tạo ra những tầng lớp mới trong xã hội nói chung, mà đối với riêng lĩnh vực văn học nghệ thuật, đô thị đã “đào tạo” ra một tầng lớp công chúng mới. Họ bao gồm những học sinh, sinh viên, những trí thức, những người bình dân… Cho dù thành phần và xuất thân của lớp công chúng mới không giống nhau, nhưng tất cả đều có chung một thị hiếu, một đòi hỏi với văn học. Văn học của thời đại mới phải thể hiện chân thực và sinh động nhất đời sống, con người hiện đại. Độc giả được biết đến như là những người trực tiếp tiếp nhận tác phẩm văn học từ nhà văn.
Không có họ, câu hỏi “Viết cho ai?” sẽ trở nên vô nghĩa, và như vậy cũng có nghĩa là văn học không thể tồn tại. Độc giả của thế kỷ XX là những con người mới, mang những tri thức mới, đã không còn bằng lòng với kiểu văn chương đậm tính chất giáo huấn với muôn ngàn khuôn vàng thước ngọc, những quy phạm, những ước lệ, những phi ngã của nền văn học trung đại. Thay vào đó, họ yêu cầu văn học như một nhu cầu giải trí thiết yếu, phải luôn sáng tạo, luôn phục vụ kịp thời. Trước những đòi hỏi ấy của người đọc, lớp nhà văn mới đã phải không ngừng nâng cao ngòi bút, không ngừng cạnh tranh.
Văn chương thực sự trở thành một nghề kiếm sống. Có thể nói cho tới lúc này - những thập niên đầu của thế kỷ XX, chưa bao giờ đời sống văn học lại trở nên sôi nổi, muôn sắc đến vậy. Bước sang thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn giao thời (1900 - 1930) nền văn học Việt Nam đã có nhiều biến đổi trong đội ngũ sáng tác. Đây được coi là thời kỳ chung chuyển nhiều loại hình tác giả.
Lớp nhà văn cũ chưa hoàn toàn mất đi, nhưng kiểu nhà văn hiện đại cũng chưa hình thành một cách rõ nét. Các loại hình 24 nhà văn ấy cùng tồn tại với những quan niệm văn học, những hướng đi riêng. Bao gồm lớp nhà nho tài tử, tiêu biểu như Tản Đà, các nhà nho là những chí sĩ yêu nước (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh). Văn chương chữ Hán những năm 30 đầu thế kỷ XX ghi dấu bằng những thành tựu thưa thớt, “cuối mùa”.
Đội ngũ các tác giả khoa bảng hoặc những nhà nho lớp trước dù nguồn gốc học vấn chủ yếu là “cựu học” thì số lượng tác phẩm Hán văn chỉ còn là “phảng phất”, không đáng kể [51, 63]. Trong bước đầu quá trình hiện đại hóa nền văn học, với những đòi hỏi mới của độc giả, các tác giả này đã không ngừng nỗ lực cách tân các tác phẩm của mình. Tuy nhiên sự cố gắng ấy vẫn chủ yếu theo con đường cách tân những thể loại văn học truyền thống như: Thơ, phú, kinh nghĩa, văn sách, luận, ký… Ngoài ra văn học thời kỳ này còn phải kể tới một đội ngũ đông đảo các nhà văn là những trí thức tân học, đó là những tên tuổi: Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Họ là lớp nhà văn ảnh hưởng rõ rệt nhất nền văn học hiện đại phương Tây, là những người tiên phong học hỏi và thử nghiệm các thể loại văn học mới. Nhìn chung thế hệ nhà văn giai đoạn này khá phong phú nhưng ở họ quan niệm về văn chương nghệ thuật khá đồng nhất.
Văn chương không còn là việc “trước thư lập ngôn”, là để di dưỡng tính tình và giáo dục con cháu,… mà văn chương được coi như một nghiệp kiếm sống của nhà văn.