Chương 1- TỔNG QUAN 1. Giới thiệu trai ngọc 1. Phân loại Trai ngọc thuộc Ngành: Mollusca Lớp: Bivalvia Bộ: Pterioida Họ: Pteriidae Chi: Pinctada 1. Đặc điểm của trai ngọc Hình 1.
Trai ngọc Pinctada [39] Trai ngọc thuộc lớp vỏ hai mảnh, đầu bị tiêu giảm, chân hình lưỡi rìu màu hơi vàng để di chuyển trong cát. Vỏ gồm 2 mảnh được gắn lại với nhau bởi dây chằng, có hai cơ khép mở bám ở mặt trong và hoạt động theo nguyên lí cửa sổ. Vỏ có lớp sừng bao bọc ở mặt ngoài, lớp đá vôi ở giữa và cuối cùng là lớp xà cừ. Sau vỏ là vạt áo Trai, đến hai tấm mang nằm trong khoang áo và ở giữa là chân, thân.
Trai ngọc sống ở vùng triều, những con lớn thường sống ở dưới triều, có khi sâu 20 m nơi có dòng nước lưu chuyển và đáy là các rạn san hô, sỏi, cát; độ trong cao; độ mặn ổn định trong khoảng 32-35‰. Chúng có chân tơ bám vào bờ đá, rạn san hô hay những giá bám cứng. Thường sống tập trung 5 - 10 cá thể trên một vật bám [8]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trai một tuổi bắt đầu sinh sản, thời gian sinh sản từ tháng 4 đến tháng 10.
Sức sinh sản của trai ngọc khá lớn như trai môi vàng (P.maxima) số trứng trong một lần đẻ trung bình 12×106 trứng/một trai mẹ [1]. Trứng thụ tinh sẽ phát triển qua các giai đoạn ấu trùng phù du. Ấu trùng trải qua các thời kỳ biến thái với những kích thước tương ứng như sau: kích thước trung bình của ấu trùng Trochophora là 70×73µm, ấu trùng có một vành tiêm mao bao xung quanh và có một tiên mao dài ở giữa, đặc điểm đó giúp ấu trùng có thể bơi lội trong nước. Ấu trùng Veliger 90×92µm, có cấu tạo đối xứng hai bên, tuyến vỏ của ấu trùng lúc đầu tiết ra một tấm vỏ ở mặt lưng sau đó phát triển ra hai bên để hình thành hai tấm vỏ như ở trưởng thành.
Ấu trùng Umbo có 3 giai đoạn biến thái là tiền Umbo 109×130µm, trung Umbo 130×135µm và hậu Umbo 180×189µm. Ðây là giai đoạn chuyển từ sống trôi nổi sang giai đoạn ấu trùng bò, rồi đến giai đoạn sống bám (spat) với kích thước là 683×525µm. Sau khoảng 25 ngày nở, ấu trùng biến thái chuyển sang giai đoạn sống bám. Ấu trùng bám thường tiết ra 3-4 rễ tô chân để bám vào giá thể [38].
Giá trị của ngọc trai Trai ngọc có khả năng tự bảo vệ khi có vật lạ xâm nhập vào cơ thể. Đây là cách phản xạ lại để tự chữa lành các vết thương của chúng, bằng cách tiết ra chất bao bọc dị vật bằng những lớp cacbonat canxi (CaCO3) dưới dạng chất khoáng aragonit hoặc canxit (cả hai dạng là dạng kết tinh của cacbonat canxi) dính với nhau bởi một hợp chất hữu cơ giống chất sừng gọi là conchiolin. Sự kết hợp của cacbonat canxi và conchiolin được gọi là xà cừ. Quá trình này lặp lại nhiều năm hình thành nên ngọc trai.
Tác nhân kích thích điển hình thường là các chất hữu cơ, ký sinh trùng hoặc thậm chí những tổn hại làm chuyển chỗ lớp màng áo sang phần khác của thân thể con vật. Các vật lạ hoặc chất hữu cơ chui vào bên trong khi nó hé vỏ ra ăn hoặc hô hấp [8]. Ngọc trai (trân châu) là một vật hình cầu, cứng, kích thước từ 2-20mm được đánh giá là một loại đá quý có giá trị kinh tế cao, dùng làm đồ trang sức hoặc mỹ phẩm. Ngành Đông y cho rằng trân châu có vị hơi ngọt tính bình vào được kinh tâm can thận, có tác dụng phối hợp chữa kinh phong, an thần, giải độc, tan màn mây ở 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mắt, trở ngại tuần hoàn nước mắt, ù tai.
Ngọc trai tự nhiên là loại đồ trang sức quý hiếm, giá trị thực của nó tương đương với đá quý, phụ thuộc vào kích cỡ, hình dạng và chất lượng của hạt ngọc. Ngọc trai tự nhiên đang trở nên ngày càng hiếm hơn do đó nghề nuôi trai lấy ngọc trở nên phát triển. Ngọc trai tự nhiên có hình dáng tự nhiên còn ngọc trai nhân tạo có hình dáng của nhân mà người ta cấy vào. Ngọc trai thường có màu trắng, đôi khi có màu kem hoặc phớt hồng và có thể nhuốm màu vàng, xanh lá cây, nâu, tím hoặc đen, trong đó ngọc trai đen được tạo ra từ loài trai Pinctada margaritifera rất quý hiếm và có giá trị kinh tế rất cao [40].
Khả năng tiêu hóa vi tảo biển của ấu trùng trai ngọc Trai ngọc là loài ăn lọc, thức ăn chủ yếu là vi tảo biển, ngoài ra còn các chất lơ lửng trong nước như xác bã hữu cơ có kích thước nhỏ. Khả năng tiêu hóa là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ấu trùng. Kính hiển vi huỳnh quang được sử dụng để phát hiện quá trình ăn và tiêu hóa vi tảo của ấu trùng thể hai mảnh vỏ [25]. Ấu trùng trai ngọc không ăn và tiêu hóa tất cả các loài vi tảo, hoặc chúng có thể ăn nhưng không có nghĩa chúng có thể tiêu hóa được [11].
Trong nghiên cứu khả năng ăn và tiêu hóa của ấu trùng Pteria sterna đối với mười loài vi tảo các nhà khoa học thấy rằng ấu trùng P.sterna chỉ ăn ba loài vi tảo Pavlova lutherid, Isochrysis aff. Galbanad và Nannochloris sp. Các loài Phaeodactylum tricornutum, Chaetoceros muelleri, Chaetoceros calcitrans, Thalassiosira weisflogii, Dunaliella salina, Tetraselmis tetrathele và Tetraselmis suecica không được ăn ở bất cứ giai đoạn nào của ấu trùng. Ấu trùng 4, 5 và 22 ngày tuổi chỉ tiêu hóa Pavlova lutherid và Isochrysis aff.
galbanad, không nhận thấy quá trình tiêu hóa diễn ra ở ấu trùng 2 ngày tuổi. Ấu trùng ăn các vi tảo có kích thước từ 2-8µm (bảng 1). Các loài vi tảo Tetraselmis tetrathele, T.suecica có đường kính tế bào lên tới 15µm và có roi có thể là quá lớn đối với ấu trùng trai ngọc. Còn các loài Chaetoceros calcitrans, Chaetoceros muelleri có đường kính tế bào chỉ 4-5µm nhưng thành tế bào cứng và có các gai lớn nên ấu trùng trai ngọc P.sterna không thể ăn [37].
Như vậy hình dạng, kích thước, cấu tạo thành tế bào và thành phần dinh dưỡng của tảo 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết định khả năng ăn và tiêu hóa của ấu trùng hai mảnh. Vì vậy, trong giai đoạn này phải kiểm soát chất lượng nguồn nước không cho các vi tảo mà ấu trùng không ăn và tiêu hóa xuất hiện. Các loài vi tảo biển được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng Pteria sterna [37] Kích Ngành Lớp Loài thước Ký hiệu Đặc điểm µm Diatoms Bacillariophyta Phaeodactylum tricornutum 25×5 PHA Tế bào thon dài, có gai Chaetoceros calcitransb 4-5 CHC lớn Coscinodiscophyceae Ch.muellerib 5×5 CH Thành tế bào cứng, gai Thalassiosira weisflogiia 11×4 THA lớn Green Chlorophyceae Dunaliella salinaa 8-10 DUN Tế bào lớn di động, 2 algae Nannochloris sp. Tế bào nhỏ có sợi Prasinophyceae Tetraselmis tetratheled glicoprotein T.
suecicad 8×16 TET Tế bào lớn chuyển Flagellates Prymnesiophyceae Isochrysis aff. galbanad 12-15 TES động có 4 roi Pavlova lutherid 6-8 T-ISO Hai roi, hình tròn, bầu 5 PAV dục. Đặc điểm của vi tảo biển ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản Nghề nuôi trai ngọc đang ngày càng phát triển, vì thế nhu cầu nuôi con giống đang ngày càng gia tăng. Mặc dù có nhiều kĩ thuật tiên tiến trong sản xuất thức ăn nhân tạo cho ấu trùng, nhưng các loại thức ăn tươi sống như vi tảo, luân trùng, giáp xác.
vẫn được xem là thức ăn vô cùng quan trọng và có tiềm năng rất lớn. Đặc điểm chung của vi tảo biển được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Vi tảo được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản như nguồn thức ăn tươi sống cho tất cả các giai đoạn sinh trưởng của động vật hai mảnh, động vật giáp xác, một số loài cá và động vật phù du sử dụng trong chuỗi thức ăn nuôi trồng thủy sản [6]. Trong bốn thập niên qua, khoảng 20 đã loài được sử dụng rộng rãi. Vi tảo phải có một số đặc tính quan trọng phù hợp với các loài thủy sản.
Chúng phải có kích thước 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phù hợp cho tiêu hóa ví dụ từ 1-15μm đối với loài ăn lọc [35] và dễ tiêu hóa, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, được nuôi tập trung và phải ổn định trong nuôi cấy dưới bất kì biến động về nhiệt độ, ánh sáng, và chất dinh dưỡng có thể xảy ra trong hệ thống trang trại nuôi giống. Cuối cùng, chúng phải có một thành phần chất dinh dưỡng tốt, bao gồm cả việc không có chất độc có thể được chuyển vào chuỗi thức ăn [3, 7]. Persoone & Claus (1980) sử dụng thành công một số chủng trong nuôi động vật hai mảnh vỏ, bao gồm: Isochrysis galbana, Isochrysis sp.ISO), Pavlova lutheri, Tetraselmis suecica, Pseudoidochrysis paradoxa, Chaetoceros calcitrans và Skeletonema costatum.ISO), Pavlova lutheri và Chatetoceros calcitrans là những loài thường được sử dụng làm thức ăn cho các ấu trùng, con non và con giống bố mẹ (trong trang trại sản xuất giống) của động vật hai mảnh. Nhiều loài đã sử dụng thành công cho động vật hai mảnh cũng được sử dụng trực tiếp làm thức ăn cho động vật giáp xác (đặc biệt là tôm) trong giai đoạn sớm của ấu trùng, đặc biệt là tảo silic Skeletonema spp., và Chaetoceros spp.
Tảo silic ở tầng đáy như Navicula spp., và Nitzschia spp., được nuôi hàng loạt và sử dụng như một nguồn thức ăn cho bào ngư non.ISO), Pavlova lutheri, T.suecica hoặc Nannochloropsis spp., thường dùng làm thức ăn cho Artemia hoặc trùng bánh xe - là nguồn thức ăn cho các giai đoạn về sau của ấu trùng giáp xác và ấu trùng cá [31]. Đáng chú ý là hiện tại, sau hơn 20 năm, các trang trại sản xuất giống vẫn sử dụng các chủng giống giống nhau cho sản xuất (Bảng 2) [16]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vi tảo biển thường đựơc sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, cũng như chế độ ăn của cá thể hay chế độ ăn chung (hỗn hợp).
Động vật phù du (sử Bào ngư dụng cho các loài Động vật Ấu trùng của Vi tảo biển non giáp xác, ấu trùng 2 mảnh vỏ động vật giáp xác cá) Isochrysis sp.ISO) ++ + ++ Pavlova lutheri ++ + ++ Chaetocceros ++ ++ + calcitrans C.gracilis Thalassionsira + + pseudomana Skelerotonema spp. + ++ Tetraselmis suecica + + ++ Rhodomonas spp. ++ Chú ý: ++ biểu thị sự phổ biến hơn + 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài việc được sử dụng trực tiếp, vi tảo còn là thức ăn quan trọng dùng nuôi động vật phù du - để làm thức ăn cho cá và các ấu trùng khác. Nó cung cấp protein (các acid amin thiết yếu), năng lượng và chất dinh dưỡng quan trọng như vitamin, các PUFA cần thiết, sắc tố được chuyển hóa thông qua chuỗi thức ăn.