Sáng Tác Của Nữ Tác Giả Trong Văn Học Việt Nam Trung Đại Thế Kỷ XVIII - XIX

Luận văn thạc sĩ văn học phân tích sáng tác của nữ tác giả trong văn học việt nam trung đại thế kỉ xviii xix nhìn từ sự vận động của, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2019

87
4
2

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do lựa chọn đề tài

Lịch sử vấn đề

Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐỀ TÀI CƠ BẢN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XVIII - XIX

2. CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ VÀ THỂ TÀI CHỦ YẾU TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XVIII - XIX

3. CHƯƠNG 3: SÁNG TÁC CỦA CÁC TÁC GIẢ NỮ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XVIII - XIX TRONG CÁI NHÌN SO SÁNH VỚI SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ THẾ KỈ X - XVII VÀ SÁNG TÁC CỦA CÁC TÁC GIẢ NAM THẾ KỈ XVIII - XIX

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nữ Tác Giả Trong Văn Học Việt Nam Trung Đại

Văn học Việt Nam trung đại thế kỷ XVIII - XIX là một giai đoạn quan trọng, không chỉ bởi những tác phẩm nổi bật của các tác giả nam mà còn bởi sự đóng góp của các nữ tác giả. Những tác phẩm của họ phản ánh tâm tư, tình cảm và những vấn đề xã hội của thời đại. Tuy nhiên, sự hiện diện của họ trong lịch sử văn học vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Việc nghiên cứu các nữ tác giả trong giai đoạn này giúp làm sáng tỏ vai trò và ảnh hưởng của họ trong nền văn học Việt Nam.

1.1. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Nữ Tác Giả

Nghiên cứu về nữ tác giả trong văn học Việt Nam trung đại đã có từ lâu, nhưng chưa có công trình nào tổng thể. Các tác giả như Lê Dư và Đỗ Thị Hảo đã có những đóng góp quan trọng trong việc ghi nhận và phân tích các tác phẩm của nữ tác giả.

1.2. Đặc Điểm Sáng Tác Của Nữ Tác Giả

Các nữ tác giả thường xuất thân từ tầng lớp trí thức, có điều kiện học hành. Sáng tác của họ thường mang đậm dấu ấn cá nhân và phản ánh những vấn đề xã hội, tâm tư của người phụ nữ trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

II. Vấn Đề Phân Biệt Giới Trong Văn Học Trung Đại

Văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, dẫn đến sự phân biệt rõ rệt giữa nam và nữ trong sáng tác. Các tác phẩm của nữ tác giả thường ít được chú ý và nghiên cứu hơn so với nam giới. Điều này tạo ra một khoảng trống trong việc hiểu biết về văn học thời kỳ này.

2.1. Tác Động Của Nho Giáo Đến Sáng Tác

Nho giáo đã định hình tư tưởng và quy tắc ứng xử trong xã hội, dẫn đến việc các nữ tác giả phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc thể hiện bản thân qua văn chương.

2.2. Những Thách Thức Trong Việc Nghiên Cứu

Sự thiếu hụt tài liệu và nghiên cứu về nữ tác giả là một thách thức lớn. Nhiều tác phẩm của họ không được lưu giữ hoặc bị lãng quên, khiến cho việc đánh giá đúng mức vai trò của họ trong văn học trở nên khó khăn.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Sáng Tác Của Nữ Tác Giả

Để nghiên cứu các tác phẩm của nữ tác giả, cần áp dụng phương pháp liên ngành, kết hợp giữa văn học, lịch sử và xã hội. Phương pháp này giúp làm rõ bối cảnh xã hội và văn hóa mà các tác giả sống và sáng tác.

3.1. Phương Pháp Liên Ngành Trong Nghiên Cứu

Phương pháp liên ngành cho phép nghiên cứu sâu sắc hơn về các tác phẩm, từ đó hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và văn hóa ảnh hưởng đến sáng tác của nữ tác giả.

3.2. Phân Tích Thể Tài Và Ngôn Ngữ

Nghiên cứu thể tài và ngôn ngữ trong sáng tác của nữ tác giả giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt trong cách thể hiện và nội dung của họ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Nữ Tác Giả

Việc nghiên cứu các nữ tác giả không chỉ giúp làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam mà còn góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong văn hóa và xã hội. Những tác phẩm của họ có thể được sử dụng trong giáo dục và nghiên cứu văn học.

4.1. Giáo Dục Văn Học Qua Tác Phẩm Nữ

Các tác phẩm của nữ tác giả có thể được đưa vào chương trình giảng dạy, giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử Việt Nam.

4.2. Tăng Cường Nhận Thức Về Vai Trò Của Phụ Nữ

Nghiên cứu về nữ tác giả giúp nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong văn hóa và xã hội, từ đó thúc đẩy bình đẳng giới trong văn học.

V. Kết Luận Về Vai Trò Của Nữ Tác Giả Trong Văn Học

Nữ tác giả trong văn học Việt Nam trung đại đã có những đóng góp quan trọng, mặc dù chưa được ghi nhận đầy đủ. Việc nghiên cứu và đánh giá đúng mức vai trò của họ là cần thiết để hoàn thiện bức tranh văn học Việt Nam.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Nữ Tác Giả

Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về nữ tác giả để làm rõ vai trò và ảnh hưởng của họ trong văn học Việt Nam.

5.2. Khuyến Khích Nghiên Cứu Đa Dạng

Khuyến khích các nghiên cứu đa dạng về các nữ tác giả, từ đó làm phong phú thêm nền văn học và văn hóa Việt Nam.

30/06/2025
Luận văn thạc sĩ sáng tác của nữ tác giả trong văn học việt nam trung đại thế kỉ xviii xix nhìn từ sự vận động của văn học sử

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐỀ TÀI CƠ BẢN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XVIII - XIX Các nữ tác gia văn học trung đại Việt Nam nói chung và các nữ tác gia văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX nói riêng có nguồn gốc xuất thân chủ yếu thuộc giai tầng trí thức quan lại, cung phi của vua hay những bà hoàng hậu, những ngƣời thuộc tầng lớp cao quý. “Có thể kể đến nhƣ Đoàn Thị Điểm là con của Đoàn Doãn Nghi một ngƣời từng dạy học ở nhiều nơi, học trò của ông nhiều ngƣời đỗ đạt cao và ông đƣợc lƣu tên trong tấm bia dựng ở quê nhà. Nữ sĩ thƣờng đƣợc học với cha của mình. Còn bà huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh là vợ của quan huyện Thanh Quan không chỉ có tài làm thơ mà có cả tài “cai trị”.

Nguyễn Trinh Thuận hiệu là Mai Am là con gái thứ 25 của vua Minh Mạng với bà Thục tần Nguyễn Khắc Thị Bửu, con gái quan Tƣ không Nguyễn Khắc Thiệu. Nguyễn Tĩnh Hòa hiệu là Huệ Phố là con gái thứ 34 của vua Minh Mạng thứ 10 (1829) là em út trong ba bà công chúa hay thơ (Nguyệt Đình, Mai Am). Nguyễn Thị Nhƣợc Bích có cha là Nguyễn Nhƣợc Sơn từng làm quan đến chức Bố chánh tỉnh Thanh Hóa, lớn lên đƣợc biểu tiến vào cung làm vợ vua Tự Đức, nhờ có học thức nên Nhƣợc Bích đƣợc Tự Đức yêu trọng. Bà lần lƣợt đƣợc phong các chức: Tài nhân (1850), Mĩ nhân (1860) rồi Lễ tần (đứng hàng thứ hai sau bậc phi), đặc biệt đƣợc cử làm Bí thƣ (thƣ kí) riêng cho bà Từ Dụ là mẹ của Tự Đức và sau đó còn tham gia giảng dạy các con nuôi của vua”.

29-688] Với nguồn gốc xuất thân cao quý nhƣ vậy thì các nữ sĩ mới có điều kiện để sáng tác các tác phẩm của mình. Trong giai đoạn trung đại, hiếm có các sáng tác của các nữ tác giả bình dân, xuất thân thƣờng dân hay không có học thức bởi lẽ do điều kiện và các quy tắc hà khắc của xã hội xƣa, những ngƣời phụ nữ bình thƣờng hầu nhƣ không đƣợc đi học và giá trị của họ không 10 đƣợc xem trọng ở việc học hành mà việc học tập xuất xử, sáng tác thơ văn dƣờng nhƣ đƣợc mặc định là sự nghiệp của giới nam. Do vậy mà trong nhân dân không thấy có sự hiện diện sáng tác của các tác giả nữ. Họ không có điều kiện học tập, không đƣợc chú trọng để học tập.

Đó là lý do dễ hiểu vì sao chúng ta có thể điểm diện hết các gƣơng mặt nữ tác giả trong một thời gian dài nhƣ vậy. Chính nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội của các nữ tác giả cũng ảnh hƣởng một phần đến việc lựa chọn và sáng tác các tác phẩm theo các đề tài, chủ đề trong các sáng tác của mình. Bao trùm lên toàn bộ sáng tác của các nữ tác giả phải kể đến đề tài lớn đầu tiên là đề tài về thiên nhiên. Đề tài thiên nhiên trong sáng tác của các nữ tác giả văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XVIII – XIX Đại thi hào Nguyễn Du trong tuyệt tác Truyện Kiều đã từng viết về mùa xuân trong tiết thanh minh: Ngày xuân con én đƣa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mƣơi Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.84] Thiên nhiên là chủ đề miên viễn và không thể thiếu trong mỗi nền văn học.

Nó gắn bó khăng khít với con ngƣời, bao bọc chở che cho con ngƣời, là môi trƣờng sống hài hoà với con ngƣời. Thiên nhiên và con ngƣời tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hƣởng lên nhau. Con ngƣời sống dựa và thiên nhiên, thiên nhiên nhờ có con ngƣời mà phát triển, đổi thay. Trong cuộc sống con ngƣời, thiên nhiên đóng một vai trò vô cùng quan trọng và chính vì thế nên thiên nhiên đã trở thành chủ đề bất tận của văn chƣơng.

Nhƣng nếu nhƣ trong sáng tác của các tác giả nam miêu tả thiên nhiên là cái cớ để bộc lộ cái chí của mình, thể hiện khát vọng kinh bang tế thế hoặc để thể hiện ý dụng ý nghệ 11 thuật làm nền cho nhân vật xuất hiện thì thiên nhiên trong thơ các nữ tác giả lại rất khác. Thiên nhiên trong sáng tác của các tác giả nữ thấm đẫm cái tình của ngƣời phụ nữ. Thiên nhiên hay chính là tâm trạng của ngƣời phụ nữ đƣợc gửi vào thiên nhiên. Thi sĩ Hồ Xuân Hƣơng khi viết về đề tài này đầy phong phú và mới lạ.

Trong thơ Hồ Xuân Hƣơng là những cảnh vật tràn đầy sức sống, vô cùng tƣơi tắn và mãnh liệt nhƣ chính con ngƣời bà. Con ngƣời Xuân Hƣơng không phải là ngƣời ƣa những thứ mờ nhạt, đìu hiu dễ khiến cho ngƣời ta cảm nhận về sự buồn bã, cô đơn, tối tăm của cuộc đời. Thiên nhiên trong thơ Xuân Hƣơng không phải là thiên nhiên vô tri vô giác mà ở đó luôn căng tràn một thứ nhựa sống dào dạt, từng con chữ nhƣ xô vào nhau, chuyển động dữ dội: Phƣởng phất chồi thông cơn gió tốc Mịt mờ ngọn cỏ lúc sƣơng gieo (Núi Ba Đèo) Và nó bật thành tiếng: Gió vật sƣờn non kêu lắc rắc Sóng dồn mặt nƣớc vỗ long bong (Núi Kẽm Trống) Những cảnh vật thiên nhiên tƣởng nhƣ đứng yên hoặc không hoạt động gì lắm nhƣng dƣới con mắt Xuân Hƣơng cũng trở nên sinh động vô cùng: Cỏ gà lún phún leo quanh mép Cá giếc le te lội giữa dòng (Cái giếng) Nhất là trong hai câu thơ lạ lùng, độc đáo này Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây đá mấy hòn. (Canh khuya) 12 Những vật yếu ớt, bé nhở tƣởng nhƣ không có sức sống cũng trở lên góc cạnh, sắc nhọn.

Đám rêu xiên ngang mặt đất mà trồi lên còn hòn đá thì chiếu thẳng lên trời để đâm toạc chân mây. Thật kì diệu và mãnh liệt vô cùng. Nói đến nghệ thuật tả cảnh của Hồ Xuân Hƣơng, ngƣời ta thƣờng đem so sánh với Bà Huyện Thanh Quan, một nữ thi sĩ ra đời sau Xuân Hƣơng không xa mấy. Bởi hai bà có những nét riêng biệt rất đặc trƣng.

Lấy một bài tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan là bài thơ Qua Đèo Ngang, ta sẽ thấy trong đó một thế giới chiều buồn, không gợi dáng hình, không đong đầy màu sắc, nhàn nhạt, đơn côi. Có thấy tiếng con chim quốc, chim đa đa nhƣng nó thực sự mơ hồ, không rõ ràng, khó nắm bắt. Bởi đó là thứ âm thanh vang vọng trong lòng. Chính trong thế giới đó dƣờng nhƣ con ngƣời và cả không gian, thời gian đều ngƣng đọng lại.

Trái ngƣợc hẳn với đó, Hồ Xuân Hƣơng lại đón nhận thiên nhiên bằng tất cả các các giác quan rộng mở nhất. Xuân Hƣơng mang đến sức sống mãnh liệt, cá tính cá nhân của mình vào trong cảnh vật. Không những vậy, thi sĩ họ Hồ còn truyền cả cái đa tình đặc sắc của mình vào trong đó nữa. Thiên nhiên nhƣ bật dậy, vén bức màn vô tri lặng lẽ của mình để xúc cảm dâng trào, và nhất là để yêu! Những giọt nƣớc đi vào thơ Xuân Hƣơng không phải là những giọt nƣớc thông thƣờng mà đó là những giọt nƣớc “hữu tình” (Chùa Hương Tích, Hang Cắc Cớ).

Đá cũng biết yêu nhau: Khối tình cọ mãi với non sông Đá kia còn biết xuân già dặn… (Đá Ông Bà Chổng)1 Trăng cũng biết tình tứ, hẹn hò chờ đợi: Năm canh lơ lửng chờ ai đó Hay có tình riêng mấy nƣớc non (Hỏi trăng) 1 Các dẫn chứng thơ bài: Cái giếng, Núi Ba Đèo, Núi Kẽm Trống, Canh khuya, Đá Ông Bà Chổng, đƣợc dẫn theo tài liệu: [11, tr.355-510] 13 Xuân Hƣơng yêu thiên nhiên tha thiết và luôn thể hiện thiên nhiên ở thời điểm căng tràn nhất của nó. Mà không cứ phải là thiên nhiên, tất cả những gì của cuộc sống phong phú đều hiện lên dƣới ngòi bút của Xuân Hƣơng với vẻ phơi phới, tràn trề, đa sắc, đa màu và ẩn chứa một linh hồn phóng khoáng, ngang tàng. Trong văn học trung đại Việt Nam, trƣớc Xuân Hƣơng chƣa có một ngƣời nào, mà là ngƣời phụ nữ lại mở rộng tấm lòng đón xuân nhƣ thế này: “Sáng mồng một, lỏng theo tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ rƣớc xuân vào” (Câu đối tết). Quả thật, đứng trƣớc thiên nhiên, ngay trƣớc những vật tƣởng nhƣ tầm thƣờng nhất, nhỏ bé nhất, sẽ không để lại ấn tƣợng với ngƣời khác nhƣng Xuân Hƣơng thì bao giờ cũng có một sự ngạc nhiên thú vị, bao giờ cũng tìm thấy một vẻ độc đáo mới mẻ, một lí do để muốn gắn bó với cuộc sống khăng khít hơn: Đá kia còn biết xuân già giặn Chả trách ngƣời ta lúc trẻ trung.

(Đá Ông Bà Chổng) Hai câu thơ kết thúc bài Núi Ba Đèo: Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo Vừa có ý trêu chọc bọn “hiền nhân quân tử” dâm ô giả dối nhƣng cũng đồng thời nói lên tấm lòng trìu mến đối với cảnh vật đất nƣớc. Đó là thứ tình cảm lành mạnh, chân thành, đƣợc diễn đạt một cách thú vị khác hẳn với thứ tình cảm khuôn sáo, ƣớc lệ trong văn học thời quân chủ chuyên chế trƣớc đó. Trong văn học nƣớc nhà ít có nhà thơ nào mà cái cá tính mãnh liệt chi phối sâu sắc và mạnh mẽ hình thức nghệ thuật nhƣ vậy, nhất là các tác giả thời quân chủ chuyên chế thƣờng hay tìm cách che giấu cái chủ quan của mình trong những tình ý chung, trong những phƣơng thức biểu hiện công thức, ƣớc lệ khuôn sáo nhiều tính chất tƣợng trƣng. Và Xuân Hƣơng mãi là nữ thi sĩ 14 đem tình yêu cuộc sống theo cách rất riêng của mình đến cho mọi ngƣời, mọi thời.

Trong thơ Bà huyện Thanh Quan lại khác hẳn, thiên nhiên mang nét đặc trƣng đƣợm buồn, hoài cổ. Con ngƣời và thiên nhiên hoà quện vào nhau trong một bức tranh u sầu. Con ngƣời khi đứng trƣớc thiên nhiên thƣờng gán cho thiên nhiên cái tâm sự của mình. Chính Bà Huyện Thanh Quan khi đi qua Đèo Ngang, đối diện với thiên nhiên khi chỉ có một mình cũng đã gửi nỗi lòng cô đơn vào thiên nhiên ấy: Bƣớc tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá lá chen hoa Lom khom dƣới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Nhớ nƣớc đau lòng con quốc quốc Thƣơng nhà mỏi miệng cái gia gia Dừng chân đứng lại trời, non, nƣớc Một mảng tình riêng ta với ta Mặt khác, thơ Nôm Đƣờng luật ở Bà huyện Thanh Quan lại có những nét đặc trƣng khác hẳn thơ Đƣờng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nữ Tác Giả Trong Văn Học Việt Nam Trung Đại Thế Kỷ XVIII - XIX: Đánh Giá và Phân Tích" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và đóng góp của nữ tác giả trong văn học Việt Nam trong giai đoạn này. Tác giả không chỉ phân tích các tác phẩm tiêu biểu mà còn đánh giá ảnh hưởng của chúng đến văn hóa và xã hội đương thời. Qua đó, tài liệu giúp độc giả nhận thức rõ hơn về sự hiện diện và sức mạnh của nữ giới trong lĩnh vực văn học, từ đó khuyến khích việc nghiên cứu và khám phá thêm về các tác giả nữ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn truyện ngắn nữ việt nam từ 1986 đến nay, nơi khám phá sự phát triển của văn học nữ trong thời kỳ hiện đại. Bên cạnh đó, tài liệu Loại hình truyện kể qua văn xuôi việt nam 1930 1945 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các thể loại văn học và cách chúng được hình thành trong bối cảnh lịch sử. Cuối cùng, tài liệu Luận văn nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn việt nam sau 1975 sẽ mang đến cái nhìn về sự phát triển của nghệ thuật tự sự trong văn học nữ sau giai đoạn đổi mới. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào thế giới văn học phong phú của nữ tác giả Việt Nam.