Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích với đề tài "Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng)" được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên năm 2014, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (Mã số: 62.22.01.21), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đào Thủy Nguyên.
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, xã hội Việt Nam bước vào quỹ đạo hòa bình với những chuyển biến sâu sắc. Văn học nghệ thuật dịch chuyển từ cảm hứng sử thi, ca ngợi các hình mẫu lý tưởng sang phản ánh đời sống thế sự - đời tư với tính chất đa dạng, phức tạp. Sự thay đổi tư duy nghệ thuật kéo theo yêu cầu đổi mới cách thức tiếp cận hiện thực, tổ chức văn bản và phương thức trần thuật. Trong các thể loại văn xuôi, truyện ngắn thể hiện khả năng nắm bắt nhanh nhạy các biến động đời sống. Tự sự học (Narratology) – phân nhánh quan trọng của thi pháp học hiện đại – cung cấp hệ thống công cụ phân tích cấu trúc văn bản tự sự. Tuy nhiên, các công trình trước đó chủ yếu dừng lại ở các bài viết nghiên cứu lý thuyết chung, hoặc khảo sát đơn lẻ từng tác giả, từng giai đoạn ngắn (1980 - 1986, 1975 - 1985), chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống về nghệ thuật tự sự trên các phương diện ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật ở nhóm tác giả mở đường tiêu biểu của thế hệ "3X" gồm Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và Ma Văn Kháng.
-
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng ở các phương diện: ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật.
- Tìm ra những điểm chung của thế hệ, điểm riêng trong phong cách của từng tác giả và khẳng định đóng góp của ba nhà văn trong sự vận động, đổi mới thể loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Vận dụng lý thuyết tự sự học hiện đại để tìm hiểu và phân tích truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng nhằm làm nổi bật giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của các tác phẩm; nhận diện điểm tương đồng và khác biệt giữa ba nhà văn trong dòng chảy truyện ngắn sau 1975.
- Tìm hiểu truyện ngắn của ba tác giả trong thế đối sánh với diện mạo truyện ngắn Việt Nam sau 1975 để chỉ ra nét riêng biệt, thành công và giới hạn của thế hệ nhà văn trưởng thành từ chiến tranh.
- Thông qua việc tìm hiểu sự đổi mới mô hình tự sự, khẳng định diện mạo tinh thần, vai trò và vị trí của ba tác giả trong sự vận động của truyện ngắn nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
- Mục tiêu nghiên cứu:
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật tự sự trên các bình diện cơ bản gồm ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng sau 1975.
- Phạm vi vấn đề: Tập trung vào cấu trúc ngôi kể, hệ thống dịch chuyển điểm nhìn và các sắc thái giọng điệu trần thuật nghệ thuật.
- Phạm vi tư liệu: Toàn bộ truyện ngắn của ba tác giả, trọng tâm là các sáng tác sau năm 1975 trong các tuyển tập: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (2006, NXB Văn học), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải (2007, NXB Hội Nhà văn), Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng (2002, NXB Hội Nhà văn); kết hợp khảo sát, đối sánh với tác phẩm của các nhà văn cùng thời và các thế hệ kế tiếp ("6X", "7X", "8X", "9X").
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng thuật tư liệu nghiên cứu theo ba nhóm nội dung chính:
-
Các hướng nghiên cứu lý thuyết tự sự học:
- Lý thuyết tự sự quốc tế: Bắt đầu từ Chủ nghĩa hình thức Nga với B. Tomashevski (phân biệt truyện kể - fabula và cốt truyện - sujet, thời gian truyện kể và thời gian trần thuật, các thủ pháp trì hoãn, cốt truyện), V. Shklovsky (kết cấu bậc thang, vòng tròn, thủ pháp đóng khung, xâu chuỗi), B. Eikhenbaum (lý thuyết văn xuôi và bản chất xung đột của truyện ngắn). Giai đoạn Cấu trúc luận và Hậu cấu trúc luận với Roland Barthes (Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự, S/Z), Tzvetan Todorov (Thi pháp văn xuôi, Ngữ pháp "Câu chuyện mười ngày"), Gerard Genette, Mieke Bal, Claude Bremond, M. Bakhtin, B. Uspensky, Manfred Jahn, R. Kellogg, Gerald Prince.
- Tiếp nhận tự sự học tại Việt Nam: Khởi sắc từ Hội thảo tự sự học năm 2001 tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Tiêu biểu là các công trình của Trần Đình Sử (Dẫn luận thi pháp học, Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử tập 1 và tập 2), các nghiên cứu dịch thuật và ứng dụng của Phan Thu Hiền (về Northrop Frye), Nguyễn Đức Dân (về Greimas), Phương Lựu (phân loại góc nhìn trần thuật), Nguyễn Thị Hải Phương (người kể chuyện), Đặng Anh Đào, Lê Phong Tuyết (về Genette), Lê Huy Bắc (về giọng và giọng điệu).
-
Nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975:
- Các công trình chuyên luận và kỷ yếu: 50 năm - Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám (Nguyễn Thị Bình khảo sát quan hệ dân chủ, bình đẳng giữa tác giả - nhân vật - bạn đọc); Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lí luận (Đại học Quốc gia Hà Nội xác định 1975 - 2000 là "thời của truyện ngắn"); Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Hiếu phân tích khuynh hướng cá thể hóa, đối thoại, gián cách của điểm nhìn); Truyện ngắn Việt Nam - Lịch sử, thi pháp, chân dung (Phan Cự Đệ chủ biên, 2007); Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, tập 2 (Đại học Sư phạm Hà Nội).
- Hệ thống luận án tiến sĩ liên quan: Luận án của Nguyễn Thị Huệ (1998, khảo sát giai đoạn 1980 - 1986 qua 4 tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn); Nguyễn Thị Thu Thủy (khảo sát phương thức kể và thoại dẫn); Lê Thị Hương Thủy (tiếp cận truyện ngắn từ góc độ thể loại sau 1986); Ngô Thu Thủy (khảo sát văn xuôi thời kỳ 1975 - 1985); các đề tài của Lê Thị Thanh Hà, Trần Thanh Việt.
-
Nghiên cứu về truyện ngắn sau 1975 của ba tác giả:
- Nguyễn Minh Châu: Chuyên luận của Tôn Phương Lan (Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu), Nguyễn Văn Long và Trịnh Thu Tuyết (Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975), Phạm Thị Thanh Nga (Lời văn nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu), Huỳnh Như Phương, Nguyễn Tri Nguyên, cùng các luận văn của Phạm Thị Hồng, Phạm Văn Dũng, Hồ Thị Thanh, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Việt Hà.
- Nguyễn Khải: Công trình Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm (tập hợp bài viết của Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Bình, Bích Thu, Đoàn Trọng Huy, Đào Thủy Nguyên), luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Nga (Tìm hiểu phong cách văn xuôi Nguyễn Khải).
- Ma Văn Kháng: Các tiểu luận, bài viết phê bình của Lã Nguyên và các nhà nghiên cứu về bản thể con người và thi pháp văn xuôi.
-
Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây xem xét từng tác giả độc lập, khảo sát thể loại văn xuôi nói chung (bao gồm cả tiểu thuyết), hoặc chỉ dừng lại ở các bài viết chuyên đề ngắn. Luận án đặt ba tác giả cùng thế hệ "3X" (Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, Nguyễn Khải sinh năm 1930, Ma Văn Kháng sinh năm 1936) vào một trục đối sánh đồng bộ để phân tích nghệ thuật tự sự ở cấp độ cấu trúc văn bản, chỉ ra mô hình cách tân trên nền truyền thống của truyện ngắn giai đoạn sau 1975.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
-
Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm:
- Lý thuyết tự sự học (Narratology): Khảo sát văn bản truyện kể như một hệ thống cấu trúc động.
- Hệ thống thuật ngữ và khái niệm công cụ:
- Người kể chuyện (NKC): Chủ thể phát ngôn, người dẫn dắt câu chuyện (người kể chuyện ẩn mình, người kể chuyện lộ diện xưng "tôi").
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (NT1), ngôi thứ hai (NT2), ngôi thứ ba (NT3).
- Điểm nhìn trần thuật (ĐPNT): Điểm nhìn bên ngoài (ĐPBN), điểm nhìn bên trong (ĐPBT), điểm nhìn đơn tuyến (ĐPĐT), điểm nhìn đa tuyến (ĐPĐaT), điểm nhìn phức hợp (ĐPPh).
- Giọng điệu trần thuật: Thái độ, lập trường tư tưởng và cảm xúc của chủ thể trần thuật đối với khách thể và người tiếp nhận (giọng ca ngợi, giọng trào lộng, giọng xót xa, giọng trầm tư triết lý, giọng phức điệu/đa thanh).
- Cốt truyện nghệ thuật (CTNT) và các hình thức kết cấu.
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tiếp cận tự sự học: Vận dụng lý thuyết tự sự để giải mã cấu trúc văn bản nghệ thuật, phân tích mối quan hệ giữa người kể chuyện, điểm nhìn và lời văn trần thuật.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát, phân loại tần suất xuất hiện của các dạng thức ngôi kể, các kiểu điểm nhìn và các loại giọng điệu trong kho tàng truyện ngắn sau 1975 của ba tác giả.
- Phương pháp hệ thống: Đặt sáng tác của ba nhà văn trong hệ thống chỉnh thể phong cách tác giả và hệ thống tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
- Phương pháp loại hình và phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Khảo sát các quy luật tổ chức văn bản tự sự đặc thù của thể loại truyện ngắn.
- Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu sáng tác của ba nhà văn với nhau; so sánh sáng tác trước và sau năm 1975 của từng tác giả; so sánh với các thế hệ nhà văn trước và sau thời kỳ Đổi mới.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm lý thuyết và thực tiễn sáng tác thành quy luật vận động của thi pháp truyện ngắn sau 1975.
-
Nguồn tư liệu khảo sát:
- Văn bản tác phẩm trích từ các tuyển tập truyện ngắn chính thức của Nguyễn Minh Châu (2006), Nguyễn Khải (2007), Ma Văn Kháng (2002).
- Các tuyển tập truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000 và các sáng tác tiêu biểu của các tác giả thuộc các thế hệ 6X, 7X, 8X, 9X dùng làm ngữ liệu đối chiếu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật lịch sử nghiên cứu lý thuyết tự sự học trên thế giới (từ Chủ nghĩa hình thức Nga, Cấu trúc luận Pháp đến Hậu cấu trúc luận và thi pháp học Mỹ) và quá trình tiếp nhận tự sự học tại Việt Nam. Chương này đồng thời rà soát toàn diện các công trình nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam sau 1975, cùng các công trình, bài viết chuyên sâu về thi pháp, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng. Từ việc phân tích các thành tựu và giới hạn của tài liệu đi trước, tác giả xác định tính tất yếu và hướng đi riêng của đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề cơ bản của tự sự học. Khái lược về truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Chương 2 thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết và bức tranh lịch sử văn học:
- Trình bày các phạm trù cơ bản của tự sự học: bản chất của hành vi tự sự, người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn, thời gian - không gian trần thuật và giọng điệu trần thuật.
- Khái quát quá trình vận động của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975 đến nay qua các mốc chuyển dịch: sự biến đổi của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, nhu cầu dân chủ hóa đời sống văn học, sự chuyển biến từ quan niệm con người công cụ/sử thi sang con người cá nhân/thế sự đời tư.
- Xác lập vị trí của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và Ma Văn Kháng: Đây là ba gương mặt tiêu biểu thuộc thế hệ "3X", trưởng thành trong kháng chiến, đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh, đóng vai trò bản lề mở đường cho công cuộc đổi mới văn học bằng khuynh hướng cách tân vững chắc trên nền tảng truyền thống.
Chương 3: Ngôi kể và điểm nhìn trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng
Chương 3 đi sâu phân tích hai yếu tố then chốt trong cấu trúc trần thuật:
- Truyện ngắn kể theo ngôi thứ ba (NT3):
- Người kể chuyện ẩn mình kể theo điểm nhìn bên ngoài (ĐPBN): Giữ khoảng cách khách quan để miêu tả hành động, sự kiện và không gian đời sống.
- Người kể chuyện ẩn mình dịch chuyển điểm nhìn: Người kể chuyện không duy trì vị trí toàn tri cố định mà thâm nhập vào thế giới nội tâm của nhân vật, chuyển đổi linh hoạt giữa điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong (ĐPBT), tạo nên tính phức hợp cho bức tranh hiện thực.
- Truyện ngắn kể theo ngôi thứ nhất (NT1):
- Người kể chuyện xưng "tôi" duy nhất kể theo điểm nhìn đơn tuyến (ĐPĐT): Tạo tính chân thực, tăng cường khả năng tự biểu hiện, tự soi chiếu, sám hối hoặc chiêm nghiệm của cái tôi cá nhân.
- Nhiều người kể chuyện xưng "tôi" kể theo điểm nhìn đa tuyến (ĐPĐaT): Câu chuyện được thuật lại qua nhiều lăng kính của các nhân vật khác nhau, tạo nên cấu trúc đa thanh, phá vỡ thế độc quyền chân lý của người kể chuyện truyền thống.
| Hình thức ngôi kể | Dạng thức điểm nhìn | Đặc điểm chức năng nghệ thuật |
|---|---|---|
| Ngôi thứ ba (NT3) | Điểm nhìn bên ngoài (ĐPBN) | Miêu tả khách quan hiện thực đời thường, tạo khoảng cách thẩm mỹ. |
| Ngôi thứ ba (NT3) | Dịch chuyển điểm nhìn (ĐPBN $\leftrightarrow$ ĐPBT) | Xâm nhập nội tâm nhân vật, tạo cấu trúc trần thuật nhiều tầng bậc. |
| Ngôi thứ nhất (NT1) | Điểm nhìn đơn tuyến (ĐPĐT) | Thể hiện chiều sâu tự vấn, sám hối, chiêm nghiệm bản thể cá nhân. |
| Ngôi thứ nhất (NT1) | Điểm nhìn đa tuyến (ĐPĐaT) | Phức hợp hóa sự kiện, tạo đối thoại đa chiều, giải trung tâm hóa chân lý. |
Chương 4: Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng
Chương 4 khảo sát sự đa dạng hóa và phức hợp hóa của hệ thống giọng điệu:
- Giọng điệu khẳng định, ngợi ca: Tiếp nối mạch nguồn nhân văn truyền thống nhưng chuyển từ ngợi ca chủ nghĩa anh hùng sang tôn vinh vẻ đẹp bình dị, phẩm giá và sức sống tiềm tàng của con người trong đời sống thường nhật.
- Giọng điệu trào lộng, châm biếm: Sử dụng tiếng cười hài hước, mỉa mai, châm biếm để phê phán thói giả dối, sự tha hóa đạo đức, cơ chế quan liêu và những mặt trái của xã hội thời hậu chiến.
- Giọng điệu xót xa, thương cảm: Bộc lộ niềm trắc ẩn sâu sắc trước nỗi đau, bi kịch số phận, sự lỡ dở và những mất mát âm thầm của con người đời thường.
- Giọng điệu trầm tư, triết lý: Đưa ra những suy ngẫm sâu sắc về quy luật đời sống, cội nguồn văn hóa, lẽ sinh tồn và bản tính con người.
- Sự kết hợp, đan xen nhiều giọng điệu: Khảo sát hiện tượng phức điệu trong cùng một văn bản truyện ngắn; sự chuyển dịch linh hoạt giữa các sắc thái giọng điệu (ngợi ca đan xen xót xa, triết lý đi liền với trào lộng) tạo nên âm hưởng phong phú cho văn xuôi sau 1975.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Vận dụng thành công các thành tựu của tự sự học hiện đại để mô tả, phân tích một cách hệ thống các bình diện cốt lõi của nghệ thuật tự sự (ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu) trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
- Là công trình chuyên biệt khảo sát toàn diện nghệ thuật tự sự ở nhóm ba tác giả "gạo cội" cùng thế hệ 3X (Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng), chỉ ra những điểm tương đồng về tư duy thế hệ và nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của từng cá nhân.
- Làm sáng tỏ quy luật chuyển biến của truyện ngắn từ thi pháp sử thi sang thi pháp đời tư - thế sự thông qua sự đổi mới cấu trúc trần thuật.
-
Đóng góp thực tiễn và ứng dụng:
- Cung cấp nguồn tư liệu học thuật có hệ thống và phương pháp phân tích văn bản cho công tác nghiên cứu văn học sử Việt Nam hiện đại.
- Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, học tập chuyên đề về thể loại truyện ngắn và văn học Việt Nam sau 1975 tại các trường đại học, cao đẳng và hệ thống trường trung học phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
- Do tập trung chuyên sâu vào ba tác giả tiêu biểu thuộc thế hệ 3X (Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng), luận án chưa thể bao quát toàn bộ các hiện tượng truyện ngắn của các thế hệ nhà văn trẻ hơn xuất hiện trong thời kỳ Đổi mới.
- Về bình diện thi pháp tự sự, luận án khu biệt trọng tâm vào ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật, chưa đi sâu khai thác trọn vẹn các yếu tố tự sự khác như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật và tổ chức cốt truyện chi tiết.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát tự sự học sang các thế hệ nhà văn "6X", "7X", "8X", "9X" để nhận diện đầy đủ sự vận động liên tục của truyện ngắn đương đại.
- Kết hợp phân tích tự sự học với các lý thuyết liên ngành khác (như phê bình sinh thái, thi pháp văn hóa, lý thuyết tiếp nhận) nhằm tiếp tục giải mã các chiều kích thẩm mỹ mới của văn xuôi Việt Nam.
Giá trị tham khảo
-
Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Tham khảo khung lý thuyết tự sự học ứng dụng, phương pháp phân tích văn bản tự sự và thao tác nghiên cứu so sánh tác gia.
- Giảng viên, giáo viên Ngữ văn các cấp: Cung cấp tư liệu chuyên sâu phục vụ thiết kế bài giảng về tác gia Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng và tiến trình văn học Việt Nam sau 1975.
- Các nhà nghiên cứu văn học sử và lý luận phê bình: Sử dụng dữ liệu đối sánh thi pháp thể loại giữa văn học trước và sau 1975.
-
Nội dung giá trị nhất:
- Phần phân tích chi tiết các mô hình tổ chức ngôi kể và cơ chế dịch chuyển điểm nhìn trong Chương 3.
- Bảng tổng hợp và hệ thống phân loại các sắc thái giọng điệu trần thuật trong Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
-
Ba tác giả được lựa chọn khảo sát trong luận án có điểm chung gì về bối cảnh thế hệ? Nguyễn Minh Châu (sinh 1930), Nguyễn Khải (sinh 1930) và Ma Văn Kháng (sinh 1936) đều thuộc thế hệ nhà văn "3X", có cùng khởi điểm sáng tác và trưởng thành trong kháng chiến, cùng đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh và đều là những cây bút tiên phong thực hiện cách tân nghệ thuật trên nền tảng truyền thống sau năm 1975.
-
Luận án phân loại các dạng thức điểm nhìn trần thuật theo những tiêu chí nào? Luận án phân loại điểm nhìn gắn liền với hai mô hình ngôi kể chính: Ở ngôi thứ ba gồm điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện ẩn mình và điểm nhìn dịch chuyển (kết hợp bên ngoài và bên trong); Ở ngôi thứ nhất gồm điểm nhìn đơn tuyến (qua một người kể chuyện xưng "tôi") và điểm nhìn đa tuyến (kể qua nhiều nhân vật xưng "tôi").
-
Những sắc thái giọng điệu trần thuật chủ yếu nào được xác định trong truyện ngắn của ba tác giả sau 1975? Luận án xác định 5 dạng thức giọng điệu chính: giọng điệu khẳng định - ngợi ca; giọng điệu trào lộng - châm biếm; giọng điệu xót xa - thương cảm; giọng điệu trầm tư - triết lý; và sự đan xen, phức hợp nhiều giọng điệu trong cùng một tác phẩm.
-
Nguồn ngữ liệu truyện ngắn chính được khảo sát trong luận án lấy từ những ấn bản nào? Ngữ liệu cốt lõi trích từ 3 tuyển tập: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (2006, NXB Văn học), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải (2007, NXB Hội Nhà văn), và Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng (2002, NXB Hội Nhà văn).
Kết luận
Luận án của Nguyễn Thị Bích là công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 qua sáng tác của ba nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và Ma Văn Kháng. Bằng việc vận dụng hệ thống lý thuyết tự sự học hiện đại, luận án đã làm sáng tỏ sự đổi mới mô hình trần thuật trên các phương diện ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu. Công trình khẳng định vai trò cầu nối của thế hệ nhà văn "3X" trong quá trình hiện đại hóa thể loại truyện ngắn, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam.