đặt vấn đề đánh giá lại thơ mới với nhiều day dứt. Dat vấn đề ảnh hưởng của thơ mới đối với tập “Tir ấy"” của Tố Hữu cũng là một cách khẳng định giá trị của thơ ca lãng mạn. Bat chấp mọi sự quy kết có thể xẩy ra trong tình thế ấy, Xuân Diệu vẫn đương đâu bảo vệ thơ mới và chứng tỏ bản lĩnh thi sĩ của mình : “The mới là một trong các hiện tượng dan tộc. Nó đã góp vào "văn mạch ddn tộc”.
Trong phần 161 của nó, thơ mới có mội lòng véu đời, yêu thiên nhiên. dat nước, yêu tiếng nói dan tộc. Thơ mới là một tiếng hái dau khổ không chịu vui với các xd hội ngang trái, vài dập đương thời. Thực ra dung ở vị trí tự tưởng của ta hiện nay mà buộc nặng cho thở văn trong hệ thống không cách mạng là rất dé, nói sao cho thấu lý đạt tình thì khó hơn".
Như một phan ứng dây chuyển, một cao trào "hạ bé” thơ mới lập tức được day lên. Xuân Dieu trở thành một nguyên cớ, một trọng điểm để phủ nhận và chính ông là người đã “ia giá” nhiều nhất : "Thời dại của “Phơ thơ” ¢da “Phấn thông vàng” đã gua từ lâu rồi và không bao giờ trở lại" (Hồng, Chương). Tuy đau nhiều nhưng Xuân Diệu không che nổi sự bất bình : ”?2¡ thay người ta thường dùng lối nói "bôi vôi” nòng noc "dit đuôi” như vậy là đổi với những trường hợp như: cái thời mà chủ nghĩa Tw bản và đếquốc làm mưa làm gió trên thé giới da vĩnh viễn qua rồi và không bao gid! trở lại. Còn trong văn học nghệ thuật là nơi tính phi dinh gắn chặt với tính kế thừa thì nói như vậy rồi, can phải nói thêm nữa mới dúng hoàn toàn.
Thời đại của phong trào thơ mới 1932 - 1945 da qua nining những tác phẩm uu tú trong phong trào đó tôi thấy rằng nó không qua. Ta tiếp nhận có phê bình. phê bình gắt gao nữa. nhưng có phải là chuyện đào sau chôn chặt thế nào được” |9 - Te 142|.
Tình hình trở nên căng thẳng và bất lợi cho Xuân Diệu khi Hồ Ngọc Hương viết về "Lời kỹ nữ” : "Fhái dé Xuân Diệu trong bài thơ này chẳng những không cam tay dat người con gái bị sa ngã đứng lên mà còn ru ngữ cô ta trong khoái cảm truy lạc và dui cô ngã xuống trôi tudn tội" {45 - 12/1959] Xuan Diệu lại phải cố giải thích rõ ngọn ngành, cố thuyết phục: "Lời kỹ at tiớp nhận một truyền thống có đâ lâu trong văn thơ Trung ()uốc. Những người thanh quý, sắc tài, biết suy nghĩ bị xã hội vùi dập, dang cam thương. Chủ dé “Lời kỹ nữ” là nỗi dau khổ. nồi lạnh lêo suối xương da của mội người chỉ đứng ở cương vị là một cá thể.
"Lòng k§ nữ cũng sâu như biển lớn. chớ để riêng em phải gặp lòng em”. Lòng kỹ nữ, lòng thi sĩ". 12 Có thể người phê bình chưa thẩm thấu hết các tảng ý nghĩa của hình tượng thơ, hoặc người ta cố tình gần ghép ? Dù ở thái cực nào cách phê bình ấy sớm muộn cũng mang “tai va" đến cho nhà thơ.
Không thế sao được; khi bốn câu thơ của Xuân Diệu trong bài "Gio" (Riêng - Chung - 1957) : "Hon ta cánh rộng mở Hai bên gió thổi vào Nghĩ những điều hon ho Như trời cao, cao, cao” lại bị bat bẻ: "Gió hai bên là gió gì ? Buôm chạy theo thứ gió hai bên là thứ buồm gì? Buôm chạy theo thứ gió hai bên không phải là thứ buồm của tu tưởng vô san. Chỉ có thứ buồm của ne tưởng cơ hội mới chạy theo thứ giá hai bên mà thái" {9 - Tr 143]. Phải chăng đây mới thực là thời kỳ mà mot vài nhà phê bình tha hồ "làm mua làm gió trên văn đàn", nhưng may man là nó "dd qua từ lâu rồi" và "không bao giờ trở fai”. Nhân bàn về Xuân Diệu, thiết tưởng cũng nên mở rộng địa bàn thơ mới để hình dung đây đủ cái diện mạo của phê bình van học lúc bấy giờ và cắt nghĩa vì sao Xuân Diệu được coi là một nhà thơ mà sự thành bại, vinh nhục đều gắn bó với những chặng đường thăng tram của thơ mới.
Ngày nay nhìn lại, chúng ta thấy chưa bao giờ có trong phê bình văn học giọng điệu lạ lùng này: "Nói đến chuyện tinh yêu trong thơ mới đối với thanh niên thành thị lúc ấy thì thực "gai dung chỗ ngứa” quá” 14 - 5/1969. "Thơ cũ hav thơ mới mà nội dung không tốt cũng “vứt di" [74 - 5/1969]. Chưa dừng lại ở những lời lẽ ấy, nhà phê bình thấy cần phải tiếp tục : “Tinh yêu và sự hưởng lạc lại cần tiền, các nhà thơ, các nhà văn lãng mạn lại nghèo cả cho nên buồn. Tình vêu buông thả tự do và sự hưởng lạc là hai lê sống của anh.
Những người con trẻ thì mo ước suông. Những kể đã dày dặn thì cùng lắm chỉ làm sa ngã dược mấy cô con gái nhà lương thiện. Nhưng thông thường anh không có diều kiện để yêu và hưởng lạc cho nên anh hay ước mơ. Nhưng anh không mo mãi được do dé anh buồn.
Mặt khác sự hưởng lạc di dược thoả man cũng vẫn có mặt trái cua nó. Chẳng han sự truy lạc it nhất cũng làm cho cơ thể bại hoại. Xác thị được thoả man thì miệng dắng. Tự bó minh trong cuộc sống quanh quẩn, tất nhiên sé dân dan thấy cuộc sống vô nghĩa" [74 - 5/1969].
Có thể coi day là biểu hiện của lối phê bình cực đoan mot thuở. Sau này Chế Lan Viên kể lại rằng : "?2¡ nhớ năm 1960, trong mội buổi người ta "dấu" Diệu vi Diệu đã cho rằng thơ Tố Hữu là thoát thai từ thơ mới. Tôi dé ứng hộ Diệu và bảo rằng thơ mới là máu thị! của dan tộc. Dù rơi vai trên đường cũng nằm trong văn 13 mạch dân tộc, không thể via di.
Tố Hữu cũng dã đồng ý với chúng tôi và nhắc lại việc mình yêu "'Tiếng sáo thiên thai” cua 7hé Lữ, "Em ăn hộ quả sim này” của Lưu Trọng Lu nói lên cái gì trong sáng, tươi mát trong tâm hồn. Tuy thẳng lợi, Diệu vẫn còn cay sau cuộc "dao có mài mới sắc” ấy. Nhưng tôi nghĩ không phải Diệu cay vì chuyện cdi vã "mắt xanh mắt thit" ấy mà cay vì những vấn đề cao hon, lớn hơn, đó là vị trí của cái hương "Individu"”, cá nhân. bản ngã trong mùa tập thể, đó là vị trí cua dong sông lãng mạn trữ tình trong địa lý thi ca" [88 - Tr 7].
Lat lại mot chút ký ức phê bình để chúng ta hiểu thêm một khía cạnh nữa trong bản lĩnh thơ Xuan Diệu. Và thêm một lý do để giải thích vì sao Xuan Diệu được coi là một sế phan thi ca tiêu biểu cho ca thế hệ thơ mới, 4. Khoảng thời gian trước và sau những năm bảy mươi người ta đã có cái có cái nhìn 4m 4p hơn đối với thơ mới. Khong còn thái độ "mat sát.
vo đũa cả nắm" như trước mà đã đi vào phân tích những đóng góp tiến bộ trong những thời kỳ khác nhau theo tinh thần mà đồng chí Trường Chinh đã yêu cầu. Vi vay, bầu không khí văn nghệ không còn quá ngột ngạt đối với các nhà thơ mới. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã góp một tiếng nói vừa như tâm tinh, vừa như thức tỉnh : "T2¡ cũng thích nhạc diệu và hơi thơ của Thế Lit, Lưu Trọng Lư. Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận.
Trong tâm hồn các anh lúc đó. tôi tìm thấy những nổi băn khoăn, dau buôn của những người cùng thế hệ doi hỏi tự do, ước mơ hạnh phúc, tuy các anh chưa tìm thấy lối ra và nhiều khi rơi vào chán nản" [47 - Tr 4291. Vào thời điểm này, mặc dù nhận thức được sự thái quá, cực đoan trong cách đánh giá của một số người trước đó, nhưng hình như ở những nam đầu, các nhà phê bình nghiên cứu vẫn ít nhiều ngân ngại khi nhắc đến trào lưu thơ mới. Một thời gian dai sau ngày miền Nam giải phóng, người ta vẫn rất dé chừng với thơ mới-và chưa ai dam vượt ra ngoài ý tưởng về một loại "Iho xuôi tay như nước chảy xuôi dòng" [50 - Tr 35] Riêng với Xuân Diệu, đây là thời ky sắng tao sung sức nhất bộc lộ trên nhiều lĩnh vực: sáng tác thơ và nghiên cứu.
Riêng trong địa hạt thơ, Ong đã đóng góp cho thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa một bề dày tác phẩm khó ai sánh kịp. Những công trình nghiên cứu, những bài viết về Ong thời kỳ này hoặc đi vào một tập thơ cụ thể, một khía cạnh cụ thể của thơ ông, hoặc nghiên cứu, đánh giá tổng quát cả hai chặng đường trước và sau cách mạng. Loại trừ một khối lượng không nhỏ những bài báo rai rác hàng năm trên các báo, tạp chí chuyên ngành, cần phải kể đến mot số công 14 trình nghiên cứu công phu, có hệ thống về Xuân Diệu, và không bỏ qua những đóng gp của Ong trong phong trào thơ mới như : "Phong trào thơ mới" - Phan Cự Đệ "Nha văn Việt Nam" (1945 - 1975) của Phan Cự be, Hà Minh Đức. "Nhà thơ Việt Nam hiện dai" (công trình tập thể của nhiều tác gia).
"Phong trào thơ mới” của nhà nghiên cứu Phan Cự be tuy không đi vào từng tác giả cụ thể ma chủ yếu đề cập một cách đồng bộ đến cả trào lưu, nhưng khi đi vào giải quyết từng vấn đề cụ thể của thơ mới, nhà nghiên cứu cũng đã kết hợp với việc miêu tả chân dung : "Điểm nổi bật trong thơ Xuân Diệu là một lòng ham sống say sưa bồng bội" |29 - Tr 99| hoặc "?rong các nhà thơ mới, có lẽ Xuân Diệu là người cảm thấy cô don một cách thấm thía nhất" [29 - Tr 134]. Ngoài ra, tác giả cũng đã đánh giá khá cao những đóng góp của Xuân Diệu về cách tân nghệ thuật: ngôn neff, vân điệu, Am luật v. Trong cuốn "Nhà văn Việt Nam” với một khoảng lùi cần thiết của thời gian cho những nhận xét chừng mực, công bằng, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức tiếp tục khẳng định : "Xuân Diéu là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của phong trào thơ mới, nhà tho của tình yêu và tuổi tre này trước cách mạng dã một thời say dam và tu đóng khung mình lại trong thé giới yên dương và mộng tưởng" [35 - Tr 6101. "Cái tập thể nhỏ của đôi lứa tưởng như có thể chan hoà bằng trăm ngàn sợi day thương mến và niềm đồng cảm sâu sắc nhất.