Chương 1 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP NÔNG TRƢỜNG QUỐC DOANH BẮC SƠN (1957 - 1960) 1.1- Điều kiện thành lập Nông trƣờng Quốc doanh Bắc Sơn 1.1- Tình hình, nhiệm vụ cách mạng miền Bắc sau ngày kí Hiệp định Giơnevơ năm 1954 Chiến thắng Đông - Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đã buộc thực dân Pháp phải kí kết Hiệp định Giơnevơ, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. Cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp kéo dài 9 năm kết thúc thắng lợi. Do so sánh lực lượng và tình hình chính trị thế giới phức tạp lúc đó, Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tạm thời đặt dưới sự quản lí của quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng sau đó bị đế quốc Mĩ và các lực lượng tay sai thống trị. Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước chưa hoàn thành.
Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng là một thắng lợi rất to lớn, đem lại niềm hân hoan, phấn khởi trong toàn dân ta. Tuy nhiên, sau ngày hòa bình được lập lại, nhân dân miền Bắc phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách do hậu quả chiến tranh để lại rất nghiêm trọng. Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc, bị thiệt hại nặng nề: 1.000 ha đất bị bỏ hoang, 8 công trình thủy nông lớn và nhiều công trình thủy nông vừa và nhỏ bị phá hủy [16. Phần lớn ruộng đất chỉ làm một vụ, năng suất rất thấp.
Kĩ thuật sản xuất thô sơ, thiên tai liên tiếp xảy ra. Sức kéo chủ yếu là trâu bò, nhưng thiếu nghiêm trọng do hàng vạn trâu, bò bị giết hại trong chiến tranh. Những đồng bào Công giáo bị dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam đã để lại hàng chục nghìn ha ruộng đất bỏ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www. Nền công nghiệp vốn rất nhỏ yếu lại bị thiệt hại nặng nề.
Phần lớn nhà máy, xí nghiệp không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng. Nguyên liệu, nhiên liệu, máy móc thiếu nghiêm trọng. Gần 50% kho tàng, công sở bị phá hoại. Tại Hà Nội, Hải Phòng, khi ta vào tiếp quản chỉ có nhà máy điện và nhà máy nước hoạt động.
Sản lượng mỏ than Hồng Gai chỉ còn 986.000 tấn, giảm 40% so với năm 1939 [16. Giao thông vận tải, mạch máu của nền kinh tế quốc dân, bị phá hủy nặng nề. Hàng nghìn km đường sắt bị tàn phá, chỉ có hơn 100 km đường sắt Hà Nội – Hải Phòng hoạt động; 3500 cầu cống bị phá hủy [16. 141], phương tiện vận tải thiếu thốn, việc giao lưu giữa các vùng gặp rất nhiều khó khăn.
Thương nghiệp bị đình đốn, các hoạt động đầu cơ, tăng giá, lũng đoạn thị trường diễn ra phổ biến. Nhà nước mới nắm được 40,5% khối lượng hàng hóa bán buôn và 22,5% hàng hóa bán lẻ [16. Sản xuất ngưng trệ, lưu thông, phân phối khó khăn, hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng. Tiền tệ chưa thống nhất, nền kinh tế quốc dân ở miền Bắc mất cân đối gay gắt.
Hàng chục vạn người thất nghiệp. Nạn đói lan tràn. Tính đến tháng 9/1954, miền Bắc có gần nửa triệu người chết đói [16. Giáo dục miền Bắc trong tình trạng thấp kém, hàng triệu người bị mù chữ.
Năm 1955, cả miền Bắc có khoảng 30 kĩ sư và cán bộ kĩ thuật. Mạng lưới y tế lạc hậu, nhiều dịch bệnh như sốt rét, lao phổi, hoa liễu, đau mắt hột… hoành hành phổ biến. Thực dân Pháp còn lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để gây thêm những khó khăn phức tạp, chia rẽ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tình hình trên đã đặt ra cho Đảng và nhân dân miền Bắc một nhiệm vụ hết sức nặng nề là khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.
Tháng 9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là ổn định trật tự xã hội, ổn định vật giá, ổn định thị trường. Khâu trọng tâm ở cả thành phố và nông thôn là phục hồi và nâng cao sức sản xuất, phục hồi kinh tế quốc dân, then chốt là phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp. Tháng 11/1954, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị về chống đói, phòng đói và phục hồi sản xuất. Đầu năm 1955, Chính phủ đề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.vn/ ra chương trình phục hồi kinh tế mà những nét lớn đã được kì họp thứ 4 (tháng 3/1955) của Quốc hội (khóa I) thông qua; trong đó nhấn mạnh: “Nhiệm vụ chung của khôi phục kinh tế là dựa vào sức lực của nhân dân ta, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước bạn – sức ta là chính – nhằm khôi phục sản xuất nông nghiệp, tiểu công nghiệp và công nghiệp; khôi phục thương nghiệp và bình ổn giá cả, củng cố nền tài chính quốc gia; khôi phục giao thông vận tải” [34].
Yêu cầu của nhiệm vụ khôi phục kinh tế là sau 2 năm, đến năm 1957, phải đưa mức sản xuất lên ngang bằng với mức năm 1939 – năm đạt mức cao nhất ở Đông Dương trước Chiến tranh thế giới thứ hai, làm mức phấn đấu. Trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế, Đảng và Chính phủ chủ trương xây dựng một mô hình điểm kinh tế trong nông nghiệp. Đó là xây dựng nông trường - nơi có sự đầu tư khoa học kĩ thuật, con người, cơ sở vật chất, cây, con giống, để có thể tạo ra năng suất, chất lượng cao nhất. Mặt khác, từ sau ngày hòa bình được lập lại năm 1954, lực lượng quân đội miền Bắc được giải trừ một số lượng tương đối lớn.
Số quân này được chuyển sang làm nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế - trước hết và chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, một nhiệm vụ trung tâm của cách mạng miền Bắc trong những năm đầu sau ngày hòa bình được lập lại. Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng miền Bắc, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng chủ trương chuyển một bộ phận lực lượng quân đội lên các vùng rừng núi, thưa dân cư để xây dựng nông trường. Qua đó nhằm phát triển kinh, văn hóa, xã hội; đồng thời giữ vững biên cương, củng cố an ninh, quốc phòng, xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến lược chuẩn bị cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.2 - Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên xã Phúc Thuận huyện (nay là thị xã) Phổ Yên Phúc Thuận là một xã miền núi, nằm ở phía Tây huyện (nay là thị xã) Phổ Yên, có diện tích tự nhiên khoảng 56,25 km2. Đi theo Tỉnh lộ 261, xã Phúc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.vn/ Thuận cách trung tâm huyện 13 km về phía tây.
Xã Phúc Thuận giáp xã Phúc Tân và xã Bình Sơn thuộc thành phố Sông Công ở phía bắc, phía đông giáp xã Minh Đức thuộc thị xã Phổ Yên, phía nam giáp xã Thành Công thuộc thị xã Phổ Yên, phía tây nam giáp xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên của tỉnh Vĩnh Phúc qua dãy núi Tam Đảo; phía tây giáp xã Cát Nê, xã Quân Chu và thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ. Thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, địa hình xã Phúc Thuận thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Địa hình khu vực này phổ biến là đồi bát úp xen kẽ những cánh đồng nhỏ hẹp, dân cư kiểu làng bản phân tán, với thế mạnh là nông nghiệp và lâm nghiệp. Thổ nhưỡng của xã Phúc Thuận có 3 nhóm đất chính: - Đất feralit hình thành trên đá phiến và các loại đá mẹ khác, phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc.
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ có khá nhiều trên một khu vực tương đối bằng phẳng trải dài dọc tuyến Tỉnh lộ 261. - Đất phù sa được hình thành do bồi đắp có ở các thung lũng, đồng bằng chân núi. Với điều kiện thổ nhưỡng như trên, vùng đất Phúc Thuận không những thích hợp trồng các loại cây nông nghiệp như lúa, rau, củ, quả… mà còn thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp lâu năm, trồng rừng và làm đồng cỏ chăn nuôi gia súc. Đặc biệt, loại đất nâu vàng có giá trị để trồng các loại cây lấy tinh dầu, như cây sả.
Đất feralit rất thích hợp để trồng cây chè. Xã Phúc Thuận có hệ thống suối, ngòi đan xen, chia cắt. Lớn nhất có suối Quân Chu chảy qua. Suối Quân Chu bắt nguồn từ chân núi Tam Đảo.
Đoạn chảy qua xã Phúc Thuận dài khoảng 7 km. Lưu lượng nước mùa mưa có thể lên đến 800 m3/giây. Ngoài ra, suối Nước Hai cũng cung cấp cho vùng một lượng nước đáng kể. Do khu vực phía Tây xã nằm tiếp giáp với dãy núi Tam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.vn/ Đảo đón gió Đông Nam, nên lượng mưa từng trận ở đây rất lớn xảy trong phạm vi hẹp, gây lũ quét rất nguy hiểm (ngày 21/10/1969, lượng mưa một giờ tại vùng này lên tới 325 mm, lũ quét ở suối Quân Cay chảy như thác đổ, cuốn trôi và làm chết 26 người, chủ yếu là sinh viên Trường Đại học Mỏ về sơ tán).
Nhìn chung, hệ thống suối, ngòi của xã Phúc Thuận có lượng nước hoạt động theo quy luật mùa và mùa nào cũng có nước. Nguồn nước ngầm của vùng vì thế cũng khá dồi dào. Nguồn nước đóng vai trò hết sức quan trọng, đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng. Do nằm gần chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu nên khí hậu ở Phúc Thuận mang tính chất nhiệt đới gió mùa.
Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa (nóng) và mùa khô (lạnh). Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau. Độ ẩm trong không khí trung bình từ 79% đến 98,3%. Lượng mưa trung bình hằng năm đạt từ 2.500 mm, trong đó mùa mưa chiếm 91,6% lượng mưa cả năm.
Mưa nhiều nhất vào tháng 7, tháng 8 và có thể xảy ra lũ quét, lũ ống. Tháng 12 và tháng 1 ít mưa, với số ngày mưa trung bình là 6,8 ngày. Vào mùa khô, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa, gây ra tình trạng khô hạn. Nhiệt độ trung bình năm là 23 0C, tổng tích ôn là 8.
Số giờ nắng trong năm từ 1.