chương I (Hạch toán lao động và tiền lương), tác giả đã đề cập sơ lược về các chế độ và hình thức trả lương ở các nông trường quốc doanh như: chế độ trả lương theo thời gian (nghĩa là trả lương tháng), lương ngày, lương công nhật và lương thời gian có thưởng; chế độ trả lương khoán gồm lương khoán theo khối lượng công việc, lương khoán việc có 12 thưởng khi hoàn thành vượt mức kế hoạch sản lượng, lương khoán theo sản phẩm cuối cùng. Các hình thức trả lương này được các nông trường áp dụng trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa. Trong chương IV, tiểu mục I “Ý nghĩa và nhiệm vụ hạch toán” đã nêu rõ nhiệm vụ của nông trường cần phải hạch toán để phân biệt được các loại giá thành từ đó tính được yếu tố lỗ hay lãi. Giá thành sản phẩm gồm các loại như: giá thành kế hoạch của sản phẩm là giá thành được lập ra trong kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính của đơn vị; giá thành thực tế chưa hoàn chỉnh (hay còn gọi là giá thành tạm tính); giá thành thực tế hoàn chỉnh là giá thành được tính toán trên cơ sở các tài liệu về chi phí sản xuất thực tế phát sinh khi quá trình sản xuất và thu hoạch sản phẩm kết thúc.
Tác giả đã bàn đến các hình thức hạch toán trong nông trường nhưng chưa phân tích chi tiết về cách tính giá thành kế hoạch và giá thành thực tế. Cũng trong năm 1985, tác giả Nguyễn Đăng Trình cho xuất bản công trình “Nông trường Đồng Giao 30 năm xây dựng, trưởng thành (1955 - 1985)”, NXB Nông nghiệp. Công trình nghiên cứu được trình bày với 12 chương, trong đó có các nội dung trọng tâm: Thứ nhất, tác giả làm rõ sự ra đời của Doanh điền quốc gia Hữu Viện - cơ sở đầu tiên của nông trường. Nhiệm vụ chủ yếu của doanh điền lúc bấy giờ là phục vụ các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi, tận thu hoa lợi để đóng góp vào cuộc kháng chiến trường kỳ và doanh điền sẽ là cơ sở đầu tiên của nông trường quốc doanh sau này; Thứ hai, tác giả đề cập đến sự ra đời và phát triển của Nông trường Đồng Giao.
Tháng 10/1955, doanh điền đón đợt công nhân mới đầu tiên, gồm: 105 cán bộ, công nhân từ Nho Quan - Gia Viễn tuyển về; 42 cán bộ, công nhân từ thành phố Hải Phòng, Hà Nội của các cơ quan Bộ Nông lâm xung phong chuyển về Đồng Giao xây dựng nông trường. Cho đến giữa năm 1956, tổng số cán bộ công nhân nông trường đã lên tới 1000 người. Trên lĩnh vực sản xuất, nông trường xác định các loại cây trồng, vật nuôi rất phong phú, như: cây công nghiệp dài ngày có cà phê chè, cà phê vối, cà phê mít, trẩu, chè xanh; cây công nghiệp ngắn ngày có lạc, vừng đen, đậu tương, thuốc lá, ớt, tỏi, gừng; cây ăn quả có chanh, cam, chuối, dứa; vật nuôi có trâu, bò, lợn, thỏ, dê, cừu. 13 Bên cạnh đó, tác giả còn làm rõ hoạt động sản xuất, chiến đấu của nông trường.
Trong cuộc chiến tranh chống phá hoại của đề quốc Mỹ, nông trường không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, mà cả nhiệm vụ chiến đấu “Giữa những ngày chiến đấu ác liệt nhất, để phối hợp với các đơn vị pháo cao xạ và tên lửa bắn rơi nhiều máy bay giặc Mỹ. Trung đội trực chiến của nông trường ra đời” [ 234, tr. Sau khi ngày hòa bình lập lại, nông trường xác định lại phương hướng sản xuất là hai cây, hai con: đó là cây dứa, cây cà phê, con bò và con lợn. Về cơ bản, đây là công trình nghiên cứu về sự ra đời và phát triển Nông trường Đồng Giao từ năm 1955 đến năm 1985.
Tác giả chủ yếu tập trung phân tích những thành tích đạt được của nông trường trên lĩnh vực hoạt động sản xuất, còn những tồn tại, khó khăn chưa thấy đề cập đến. Trong cuốn “Nông trường 715 - kết quả sản xuất và cải tiến quản lý” của Dương Quang Diệu, NXB Nông nghiệp Hà Nội, năm 1988. Tác giả đã phân tích những yếu tố tác động đến sự ra đời của Nông trường 715. Trước đây, nông trường là đoàn 754, thuộc đoàn 333 Quân khu 5, là một trung đoàn xây dựng kinh tế được thành lập từ sau năm 1975.
Đến tháng 10/1982, thực hiện Quyết định 175/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, các đơn vị quân đội làm kinh tế được chuyển giao sang Bộ chuyên ngành quản lý. Ngày 17/11983 Bộ Nông nghiệp có Quyết định số 18/NN - TCCB, thành lập Nông trường 715 trực thuộc Xí nghiệp Liên hợp nông - công - lâm nghiệp 333, có nhiệm vụ hợp tác với Liên Xô trồng cà phê xuất khẩu. Ngoài ra, công trình nghiên cứu còn đề cập đến những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất như giải quyết vấn đề giao thông, thủy lợi, phân bón; áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phát huy và cải tiến máy móc. Qua đó, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tế Nông trường 715.
Cuốn sách “45 năm kinh tế Việt Nam 1945 - 1990”, NXB Khoa học xã hội (Hà Nội), năm 1990, do Đào Văn Tập chủ biên, đã dựng lên một bức tranh toàn cảnh về sự phát triển của các ngành sản xuất trong đó tổng kết về hiệu quả sản xuất của nông trường giai đoạn 1955 - 1960. Hoạt động sản xuất của nông trường quốc doanh không thật sự hiệu quả, trừ một số nông trường sản xuất chè, còn hầu như tất 14 cả các nông lâm trường, trạm đều thua lỗ. Tác giả đã chỉ rõ “các nông lâm trường tuy có những thành tựu nhất định, song không tương xứng với số vốn đầu tư nhà nước bỏ ra. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng đó, nhưng trước hết là do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp từ trên xuống đã làm cho hoạt động kinh tế của nông trường kém hiệu quả” [239, tr.
Nhận định này của tác giả giúp cho chúng tôi có thêm cơ sở để đánh giá sự phát triển các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An trong giai đoạn này. Đáng chú ý là cuốn “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II, 1955- 1975”, xuất bản năm 2005 (NXB Khoa học xã hội) của tác giả Đặng Phong, liên quan khá trực tiếp đến nội dung luận án là phần trình bày của chương V, về kinh tế nông nghiệp 1965 - 1970. Tác giả Đặng Phong khẳng định nông trường quốc doanh là một loại hình tổ chức mới mà một số nước xã hội chủ nghĩa khác như Liên Xô, Trung Quốc đã thực hiện. Loại hình này gồm có: Nông trường quốc doanh - xây dựng trên cơ sở các doanh điền tịch thu được trong cải cách ruộng đất; Nông trường quân đội thành lập theo chủ trương chuyển ngành hàng loạt bộ đội sang làm kinh tế sau hòa bình lập lại; Liên đoàn sản xuất miền Nam - tổ chức lực lượng các cán bộ, nhân dân miền Nam tập kết ra Bắc.
Năm 1960, trên toàn miền Bắc có 16 nông trường quốc doanh, 34 nông trường quân đội và 9 liên đoàn sản xuất miền Nam đã được tập hợp lại thành một hệ thống nông trường quốc doanh, do bộ Nông trường quốc doanh thống nhất quản lý. Các nông trường được xây dựng chủ yếu ở vùng trung du và miền núi, sản phẩm chủ yếu là các loại cây công nghiệp. Ngoài ra, tác giả còn chỉ rõ việc xây dựng và phát triển hệ thống nông trường quốc doanh, ngoài vốn đầu tư của nhà nước, ngành nông nghiệp còn nhận được không ít sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bước đầu của công cuộc cải tạo chế độ XHCN, Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng các nông trường quốc doanh, nên cần phải có sự giúp đỡ và định hướng của các nước bạn.
Liên Xô, Trung Quốc, Cu Ba là ba nước hỗ trợ cho Việt Nam nhiều về kỹ thuật và nguồn nhân lực để xây dựng thành công nông trường quốc doanh. Tuy nhiên, công trình này mới chỉ quan tâm đến sự ra đời của các nông trường quốc 15 doanh nói chung, còn hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nông trường chưa được đề cập đến. Bên cạnh các công trình chuyên khảo, trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, có một số bài viết của các nhà nghiên cứu có liên quan đến nội dung của luận án ở những mức độ khác nhau. Tác giả Trần Kim Xuyến có bài viết về“Chính sách xã hội đối với thanh niên tại các nông trường” đăng trên Tạp chí Xã hội, số 4, năm 1986.
Tác giả đã đề cập đến ba vấn đề cơ bản, sau đây: Thứ nhất, về thực trạng đời sống tinh thần của tầng lớp thanh niên tại các nông trường trên phạm vi cả nước, chủ yếu là thanh niên nữ. Đối với phụ nữ khó có điều kiện để lấy chồng chiếm số lớn và chủ yếu là số không chồng, con; số có con nhưng không có chồng. Việc thiếu điều kiện sinh hoạt văn hóa tinh thần và nhất là điều kiện xây dựng gia đình đã ảnh hưởng rất lớn tới sự hài hòa về nhân cách của người lao động, không những thế nó còn ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động. Thứ hai, bài viết nêu lên nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó do tỷ lệ mất cân đối giữa nam và nữ; tính chủ động của nam giới cao hơn nữ giới, nên công việc dễ chuyển đổi; ban đầu số nữ xin vào nông trường nhiều hơn nam; ở nông trường, số tham gia nghĩa vụ quân sự chủ yếu là nam.
Thứ ba, tác giả đưa ra một số kiến nghị để tránh sự mất cân đối về giới tính trong cơ cấu lao động và các chính sách ưu đãi đối với nam và nữ tại các nông trường. Tác giả đã phân tích rất cụ thể về phương diện tình cảm và hôn nhân của bộ phận thanh niên trong các nông trường, riêng các vấn đề khác của đời sống tinh thần như văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chưa được bàn đến. Bài viết trên của tác giả giúp cho chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn khi đánh giá về đời sống của cán bộ công nhân viên trong các nông trường miền Tây Nghệ An. Bài viết “Những tín hiệu mới trên Nông trường Sông Đà” của tác giả Đỗ Hùng đăng trên Tạp chí Đông Nam Á, số 77 (10/2004), nghiên cứu những chuyển đổi của Nông trường Sông Đà sau khi áp dụng Nghị định 01/CP của Thủ tướng Chính phủ.