ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ não gồm chảy máu não và nhồi máu não là một bệnh phổ biến có xu hướng tăng theo tuổi và sự phát triển của xã hội. Ở Hoa Kỳ, trung bình hằng năm có khoảng 700.000 người bị đột quỵ não, trong đó 500.000 người là mới mắc, 200.000 người bị tái phát, tử vong khoảng 200.000 người và chi phí điều trị là khoảng 50 tỷ USD/năm. Ở Việt Nam, từ năm 1995 trở lại đây, nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bị đột quỵ não hằng năm tăng cao [7]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, ở các nước đang phát triển đột quỵ não là nguyên gây tử vong đứng hàng thứ ba sau ung thư và bệnh tim mạch.
Bệnh thường nặng, tỉ lệ tử vong cao, các trường hợp không tử vong thường để lại di chứng nặng nề, giảm chất lượng cuộc sống, tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội. Việc hoạch định chiến lược dự phòng đột quỵ não là cần thiết nhằm giảm tỉ lệ mắc bệnh, tái phát bệnh kéo theo giảm được kinh phí điều trị cũng như tỉ lệ tử vong. Để làm được điều này, xác định nguyên nhân, tìm hiểu cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ trong đột quỵ não có vai trò quan trọng. Nguyên nhân phổ biến nhất của nhồi máu não là do tắc nghẽn mạch gây ra bởi mảng xơ vữa động mạch.
Mặt khác xơ vữa động mạch cũng làm tăng nguy cơ vỡ mạch não dẫn đến đột quỵ chảy máu não. Từ đầu thập niên 80, đã có những phát hiện về vai trò của viêm trong bệnh nguyên xơ vữa động mạch. Với những hiểu biết mới này, Protein phản ứng C, chất chỉ điểm nhạy nhất của viêm và nhiễm trùng, được chứng minh là yếu tố dự đoán biến cố tim mạch có tính thuyết phục và độc lập. Protein phản ứng C còn được xem là chất chỉ điểm sinh học tối ưu, được khuyến cáo thăm dò để đánh giá nguy cơ tim mạch ở người lớn.
Hiện nay, bằng những phương pháp có độ nhạy cao, người ta có thể đo được nồng độ protein phản ứng C ở Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Khoá luận Kinh tế 2 những mức rất thấp (< 0,2 mg/l), tạm dịch là protein phản ứng C độ nhạy cao (High sensitivity C-Reactive Protein, Hs-CRP). Mặt khác Hs-CRP dễ dàng đo lường bằng các thử nghiệm không đắt tiền, lấy mẫu thuận tiện, thay đổi trong ngày không đáng kể, không phụ thuộc vào lượng thức ăn, thời gian bán huỷ kéo dài [3], [18], [19], [20]. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa tổn thương xơ vữa động mạch và nồng độ Hs-CRP trên các đối tượng mạch vành, hội chứng chuyển hoá, đái tháo đường, tăng huyết áp,…Những nghiên cứu này đã củng cố giả thuyết cho rằng vữa xơ động mạch là một bệnh viêm. Napoli và cộng sự nghiên cứu về ảnh hưởng của protein phản ứng C với tiên lượng của nhồi máu não cho thấy protein phản ứng C tăng cao có liên quan đến mức độ nặng của bệnh [37], [38], [39].
Pinky Talreja Mishra và cộng sự nghiên cứu về nồng độ Hs-CRP trên bệnh nhân đột quỵ não cho thấy có sự tăng đáng kể nồng độ Hs-CRP ở cả bệnh nhân nhồi máu não và chảy máu não chứng tỏ có một phản ứng viêm trong đợt cấp, và sự tăng Hs-CRP có liên quan đến mức độ nặng tổn thương thần kinh trong đột quỵ não [54]. Việc xác định các yếu tố nguy cơ tim mạch, trong đó có định lượng nồng độ Hs-CRP huyết thanh, trên bệnh nhân đột quỵ não là cần thiết cho tiên lượng và dự phòng bệnh. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu “Nồng độ Hs-CRP huyết thanh và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đột quỵ não” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đột quỵ não điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên.
Xác định mối liên quan giữa nồng độ Hs-CRP với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đột quỵ não. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Khoá luận Kinh tế 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đột quỵ não 1. Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não Đặc điểm giải phẫu các động mạch não [9],[23]: Não được tưới máu bởi hai hệ thống động mạch: hệ động mạch cảnh trong và hệ động mạch sống - nền.
Tuần hoàn động mạch não - Hệ động mạch cảnh trong đi ở phía trước cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước của bán cầu đại não và chia thành 4 ngành tận: động mạch não trước, Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Khoá luận Kinh tế 4 động mạch não giữa, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước. Mỗi động mạch não chia làm hai loại ngành: ngành nông cung cấp máu cho vỏ não, ngành sâu đi vào trong não. - Hệ động mạch sống - nền đi ở phía sau phân bố máu cho thân não, tiểu não, mặt dưới thùy thái dương và thùy chẩm Các nhánh nối thông ở nền sọ của hai hệ động mạch này tạo thành đa giác Willis. Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não Lưu lượng tuần hoàn não: trung bình ở người lớn là 49,8 ± 5,4ml/100g não/ phút (chất xám: 79,7 - 10,7ml/100g não/phút, chất trắng: 20,5 ± 2,5ml/100g não/phút).
Thể tích máu não là 4 - 5ml/100g. Thời gian chuyển máu trung bình: 3,2 - 3,5 giây. Ở trẻ em, lưu lượng tuần hoàn não khu vực lớn hơn ở người lớn. Từ lứa tuổi 60 trở đi, lưu lượng tuần hoàn não giảm xuống nhanh chóng.
Các thể đột qụy não Định nghĩa đột qụy não theo Tổ chức Y tế Thế giới: ''Đột quỵ não là hội chứng thiếu sót chức năng não khu trú hơn là lan toả, xảy ra đột ngột,tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong vòng 24 giờ, loại trừ nguyên nhân sang chấn não'' [7]. Phân chia các thể lâm sàng ĐQN có 2 thể chính: - Nhồi máu não: 80 - 85% (trong đó huyết khối động mạch não khoảng 60 - 70%, tắc mạch máu 15 - 25%). - Đột qụy chảy máu chiếm 15 - 20% (trong đó chảy máu não 10 - 15%, chảy máu dưới nhện khoảng 5%). Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Khoá luận Kinh tế 5 1.
Dịch tễ đột qụy não Đột quỵ não là bệnh mang tính toàn cầu có tỉ lệ cao trong các bệnh về thần kinh. Trên thế giới tỉ lệ mới mắc hàng năm là 200/100. Dịch tễ đột quỵ não thế giới - Tỉ lệ hiện mắc và tỉ lệ mới mắc: Theo cơ quan thống kê về bệnh tật của Hoa Kỳ năm 2010, mỗi năm Hoa Kỳ có thêm 795000 bệnh nhân; và chi phí điều trị cho đột quỵ khoảng 50 tỉ USD/năm. Ở Pháp, năm 1994: Dân số 52.000 người thì có 65.000 người bị ĐQN.
Chi phí cho điều trị chiếm 2,5 - 3% tổng số chi phí y tế cho cả nước. Ở Châu Á, tỉ lệ hiện mắc bệnh trung bình hằng năm ở các nước có sự khác biệt. Cao nhất là Nhật Bản: 340-532/100.000 dân, riêng thủ đô Bắc Kinh: 370/100. - Tỉ lệ tử vong: Ở các nước Âu, Mỹ và các nước đang phát triển, tỉ lệ tử vong do ĐQN đứng hàng đầu trong các bệnh thần kinh và đứng hàng thứ ba sau bệnh ung thư và bệnh tim mạch, chiếm khoảng 20% các bệnh nội khoa.
Theo Hutchison (1975), tử vong trong CMN là 83%, NMN là 27%. Theo Mixiuk (1980) tử vong trong tháng đầu của ĐQN là 32%, CMN là 69%, NMN là 20%. - Tuổi và giới ở bệnh nhân ĐQN: ĐQN tăng lên theo tuổi. Theo WHO (1989) thì ĐQN có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất là 60-80 tuổi CMN gặp nhiều ở tuổi 50-60, huyết khối động mạch não gặp nhiều hơn ở lứa tuổi trên 60, nghẽn mạch từ tim xảy ra ở tuổi trẻ.
Tỉ lệ nam/nữ ở bệnh nhân ĐQN từ 1,8-2,4 (J Philip, Kisler, Allan A.(trích dẫn theo 3) Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Khoá luận Kinh tế 6 1.Dịch tễ đột quỵ não Việt Nam - Tỉ lệ hiện mắc và tỉ lệ mới mắc: + Theo Nguyễn Văn Đăng và cộng sự (1997) qua mẫu điều tra 976.441 người, thấy tỉ lệ hiện mắc điểm (point prevalence) là 75,14/100.000 dân, tỉ lệ mới mắc 53,2/100. + Hoàng Khánh, Huỳnh Văn Minh và cộng sự (1994), tỉ lệ hiện mắc bệnh ĐQN là 288/100.000 dân, tăng lên rõ rệt theo tuổi. Tần xuất năm cũng có xu hướng tăng lên những năm gần đây từ 8,87 đến 47,67. + Nghiên cứu của Lê Văn Thành và cộng sự (1994), tỉ lệ hiện mắc bệnh trung bình hằng năm là 416/100.000 dân, tỉ lệ mới mắc là 152/100.
- Tỉ lệ CMN, NMN: + Theo các công trình nghiên cứu đã được công bố, tỉ lệ tai biến NMN luôn luôn chiếm ưu thế so với thể tai biến CMN. Ở các nước Âu - Mỹ và các nước có nền công nghiệp phát triển tỉ lệ CMN chỉ chiếm từ 10-15% ĐQN nói chung, trong khi NMN chiếm đến 85-90%. Ở châu Á tỉ lệ CMN có cao hơn các nước Âu-Mỹ nhưng không bao giờ chiếm ưu thế so với NMN. + Ở Việt Nam, theo Lê Văn Thành và cộng sự (1990) điều tra 2.962 bệnh nhân, nhóm CMN chiếm 40,42%, nhóm NMN chiếm 59,58%.
+ Tại Huế, Hoàng Khánh tỉ lệ CMN là 39,42% và NMN là 60,58% [3], [15]. Các yếu tố nguy cơ đột quỵ não 1. Các yếu tố nguy cơ không cải biến được - Tuổi: Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều đưa đến kết luận ĐQN tăng dần theo lứa tuổi và tăng vọt lên từ lứa tuổi 50 trở lên. Tuổi càng lớn thì bệnh mạch máu càng nhiều mà trước hết là vữa xơ động mạch.
Tuổi càng lớn thì tích tụ càng nhiều yếu tố nguy cơ [15], [41]. - Giới tính: Bệnh thường gặp ở nam nhiều hơn nữ. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong do ĐQN ở nữ cao hơn nam [15], [41]. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Khoá luận Kinh tế 7 - Sắc tộc: Ở Hoa Kỳ dân da đen có tần suất ĐQN 1,5 lần ở nam và 2,3 lần cao hơn dân da trắng [15], [41].
- Tiền sử gia đình: Tiền sử gia đình cũng cho ta hướng dự phòng. Tiền sử cha mẹ mắc ĐQN liên quan tới nguy cơ mắc ĐQN ở con cái. Gia tăng nguy cơ này có thể chịu ảnh hưởng tính di truyền, nhạy cảm gia đình, yếu tố văn hoá - môi trường và lối sống [41].