mở đầu cho nội dung nghiên cứu như vấn đề cần được nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu,. Trong chương 2, tác giả sẽ khảo lược lại những lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước đây đã được tiến hành nghiên cứu, phân tích các yếu tố tác động đến quy mô phát hành trái phiếu doanh nghiệp để làm nền tảng cho cơ sở lý thuyết cho vấn đề tác giả đang nghiên cứu. Nhưng trước khi đi vào những lý thuyết nền và khảo lược các nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan, tác giả sẽ nêu lại về những khái niệm, định nghĩa về các đối tượng liên quan đề tài: Trái phiếu, thị trường trái phiếu và các đối tượng liên quan.1 Lịch sử phát triển của trái phiếu và thị trường trái phiếu trên thế giới Trái phiếu đã tồn tại nhiều năm về trước và có niên đại vào khoảng 2400 năm trước công nguyên. Trong vòng nhiều thập kỷ vừa qua, hoạt động đầu tư trái phiếu đã tăng trưởng nhanh chóng theo cấp số nhân cả trên các thị trường TPCP và TPDN.
Trái phiếu đầu tiên được ghi lại trong lịch sử có từ 2400 năm trước công nguyên, đó là một viên đá được phát hiện tại Nippur, thuộc Mesopotamia, là Irag ngày nay. Loại trái phiếu này hỗ trợ việc đảm bảo thanh toán ngũ cốc. Và trái phiếu sẽ được thực hiện nếu như người thủ lĩnh không trả lương thực cho người nắm giữ trái phiếu. Ở thời điểm này, ngôn chính là đơn vị tiền tệ.1: Trái phiếu đầu tiên được ghi lại trong lịch sử Nguồn: http://bondfunds.com/education/a-brief-history-of-bond-investing/ 10 Vào những năm 1100, Venice bắt đầu phát hành TPCP nhằm mục đích để tài trợ cho các cuộc chiến tranh và xung đột của mình.
Thành phố tiếp tục mở rộng và phát triển TTTP trong suốt thế kỷ 14, người dân ở khu dân cư Venice đã có thể thực hiện giao dịch mua và bán nhiều loại tài sản tài chính của chính phủ hơn, với việc thanh toán cho các trái chủ (người nắm giữ trái phiếu) một khoản tiền mang tính chất định kỳ hằng năm với một tỷ lệ được ấn định từ trước. Ở Anh, những TPCP đầu tiên được phát hành tại nhà băng Anh vào năm 1963 nhằm mục đích tạo vốn để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những TPCP này là sự đánh đổi rủi ro để lấy được những khoản chi trả định kỳ hàng năm. Những TPCP đầu tiên được phát hành tại Anh đã tạo nên sự xuất hiện của một xu hướng trên toàn cầu, với ngày càng nhiều quốc gia đi theo sự dẫn dắt của Anh và phát hành TPCP để tài trợ cho các cuộc chiến.
Ở Mỹ cũng xảy ra tình trạng tương tự. TPCP đầu tiên của Mỹ bắt đầu với cuộc Chiến tranh Cách Mạng (Revolutionary War), khi quốc gia này phát hành trái phiếu đầu tiên để gây quỹ chống chiến tranh. Kho bạc cung cấp những giấy tờ cho vay, tương đương với trái phiếu. Cùng cùng năm ấy, có một số cá nhân đã mua khoảng 27 triệu USD trái phiếu nhằm tài trợ cho cuộc chiến tranh.
TPCP Mỹ mà trước đây hay gọi là “Trái phiếu tự do” đã được sử dụng nhằm hỗ trợ cho Chiến tranh thế giới thứ I. Vào nămm 1917, “Đạo luật Khoản vay Tự do đầu tiên” đã đồng ý 5 tỷ USD trái phiếu được phát hành với lãi suất là 3.5%, chỉ sau khi Hoa Kỳ tuyên bố chiến tranh với Đức ba tuần. TPCP dài hạn trong lịch sử được chứng minh là một công cụ an toàn trước sự sụp đổ của TTCK vào năm 1929, một năm mà chúng mang lại lợi nhuận 3,4%/ năm. Sau sự sụp đổ và hậu quả là sự suy thoái, TPCP Hoa Kỳ đã thu được lợi nhuận kỷ lục.
Trong giai đoạn “Suy thoái Eisenhwer”, 1955-1959, các trái chủ nắm giữ TPCP dài hạn bị lỗ vốn tận 4 trên 5 năm. Cùng vào khoảng thời gian trên, lãi suất đều tăng đều đặn, gây những sức ép đáng kể lên TPCP. Từ năm 1969, nền kinh tế Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi lạm phát hàng loạt và lãi suất gia tăng, cùng với đó Hoa Kỳ cũng tham gia 11 vào Chiến tranh Việt Nam. Trái phiếu dài hạn bị ảnh hưởng nặng nề nhất, mất gần một phần tư giá trị trong năm đó.
Vào cuối những năm 1970 và cho đến đầu những năm 1980, các doanh nghiệp không thuộc loại hình công ty đại chúng được phát hành TPDN, điều này xảy ra sau khi trái phiếu bị thiệt hại nặng sau hai “cơn bão” về giá dầu mỏ, lạm phát tràn lan và lãi suất quá cao. Tại thời điểm này, chỉ những tập đoàn ở cấp đầu tư mới được phép phát hành TPDN ra đại chúng, nhưng nếu xếp hạng của công ty giảm xuống sau khi trái phiếu được phát hành, thì chúng vẫn được phép giao dịch. Tuy nhiên vào năm 1977, Bear Stearns đã cho phát hành trái phiếu có độ rủi ro cao mới đầu tiên trong hàng thập niên. Cho tới năm 1983, hơn 35% (1/3) tổng số nợ của công ty là nợ không được đầu tư và tái đầu tư.
Đến năm 1989, TTTP có rủi ro cao đã tăng lên 189 tỷ đô la. Năm 1994, sự gia tăng bất ngờ của lãi suất ngắn hạn của Cục Dự trữ Liên Bang đã gây ra một đợt bán tháo ồ ạt trái phiếu, khiến tình trạng này ngày càng trở nên nặng nề hơn do việc sử dụng một số công cụ tài chính phái sinh và đòn bẩy. Tạp chí Fortune ước lượng rằng 1 nghìn tỷ đô la tài sản trái phiếu đã bị mất. Mặc dù một trong những công cụ phái sinh nợ đầu tiên xuất hiện vào những năm 80, với việc tạo ra các nghĩa vụ nợ được thế chấp, những sản phẩm này vẫn còn khá mơ hồ cho đến sau năm 2000.
Chẳng bao lâu sau, CDO (Collateralized Debt Obligation) trở nên phổ biến hơn, phức tạp hơn và rủi ro hơn theo cấp số nhân, mặc dù các chứng khoán này thường tổ chức xếp hạng tín dụng cao. Từ năm 2000 đến 2007, quy mô tiếp xúc với thu nhập cố định trên toàn thế giới đã tăng gấp đôi; đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các chứng khoán giống như trái phiếu, Phố Wall tiếp tục tung ra các công cụ phái sinh mới, như chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp. Sau khi bong bóng nhà đất vỡ, các công cụ tài chính phái sinh có thu nhập cố định đã bị ảnh hưởng nặng nề. Chủ sở hữu của các công cụ phái sinh này đột nhiên bị mất tiền và mắc kẹt với những tài sản không có tính thanh khoản nên không ai động tới.
Bên cạnh TTTP cấp độ phi đầu tư, TTCK cũng sụt giảm, buộc các cơ quan quản lý của Hoa Kỳ và Cục Dự trữ Liên bang phải can thiệp và cố gắng ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài 12 chính. Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, Cục Dự trữ Liên bang tung ra không phải một mà là ba gói kích thích chưa từng có. Xuyên suốt ba động thái chính sách lớn này, FED đã bơm hàng nghìn tỷ USD vào thị trường bằng cách mua TPKB và các loại chứng khoán khác có đảm bảo bằng thế chấp tài sản. Đồng thời, FED cũng đã cắt giảm lãi suất một cách liên tục cho đến khi không thể hạ lãi suất gần bằng 0 được nữa.
Vào ngày 18 tháng 12 năm 2013, Cục Dự trữ Liên bang thông báo rằng họ sẽ bắt đầu giảm dần chương trình mua trái phiếu. FED đã thông báo rằng việc giảm dần sẽ được hoàn thành vào tháng 10 năm 2014 (tất nhiên là tất cả các yếu tố khác đều bằng nhau), đánh dấu sự kết thúc của ba vòng nới lỏng định lượng.2 Trái phiếu và những vấn đề liên quan đến trái phiếu 2.1 Những định nghĩa về trái phiếu Theo định nghĩa của từ điển Cambridge, trái phiếu (Bond) là một loại giấy tờ do chính phủ hoặc một công ty phát hành để chứng minh rằng người cho vay đã cho người đi vay vay tiền và họ sẽ trả lại cho người cho vay với một mức lãi suất cụ thể. Còn theo định nghĩa của Investopedia, trái phiếu là một công cụ có thu nhập cố định đại diện cho một khoản vay của nhà đầu tư đối với người đi vay (thường là doanh nghiệp hoặc chính phủ). Trái phiếu được sử dụng bởi các công ty, thành phố, tiểu bang và chính phủ có chủ quyền để tài trợ cho các dự án và hoạt động.
Chủ sở hữu trái phiếu là người nợ hoặc chủ nợ của công ty phát hành. Theo Ross và cộng sự (2002), “Trái phiếu là một khoản nợ chỉ có lãi suất, tức là người vay sẽ trả lãi định kỳ và trả gốc vào cuối kỳ”. Theo Martellini và cộng sự (2003) định nghĩa: “Trái phiếu là một nghĩa vụ tài chính của người phát hành (hay người vay) cam kết trả lại cho trái chủ (hay người cho vay) khoản tiền gốc và lãi định kỳ, được tính trên khoản gốc vay trong một khoảng thời gian nhất định.Trái phiếu thông thường là trái phiếu trả lãi định kỳ và trả gốc vào ngày đáo hạn”. 13 Theo Collin (2003): “Trái phiếu là một hợp đồng của người phát hành cam kết trả lại một khoản tiền đã vay vào một ngày nhất định và trả lãi định kỳ.
Trái phiếu có thể coi là một khoản vay dài hạn của Chính phủ hoặc doanh nghiệp, có lãi suất cố định hoặc thả nổi theo giá bán”. Berk và DeMarzo (2014) định nghĩa: “Trái phiếu là một chứng khoán được bán bởi các chính phủ và tập đoàn để huy động tiền từ các nhà đầu tư ngày hôm nay để đổi lấy các khoản thanh toán đã hứa trong tương lai”. Jason Fernando (2022) định nghĩa: “Trái phiếu là một công cụ nợ do các tổ chức phát hành (chính phủ hoặc doanh nghiệp) và được chứng khoán hóa như tài sản để có thể giao dịch”. Theo Khoản 3, Điều 4, Luật Chứng khoán năm 2019, “Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành”.
Như vậy, trái phiếu là một loại công cụ nợ mà trong đó có quy định nghĩa vụ của chủ thể phát hành phải trả cho chủ thể nắm giữ một khoản tiền lãi được xác định trước tại một thời điểm cụ thể trong tương lai và hoàn trả gốc vay ban đầu khi đến hạn. Từ những định nghĩa về trái phiếu, có thể hiểu rằng, trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ, do doanh nghiệp là chủ thể phát hành và bán cho các nhà đầu tư, trong đó, có cam kết hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho người nắm giữ trái phiếu.2 Đặc điểm của TPDN Trái phiếu là một hợp đồng thỏa thuận giữa người phát hành trái phiếu và người sở hữu trái phiếu.