Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu Trên thế giới và ở Việt Nam đã có các nghiên cứu về thái độ, sự hài lòng của người dân đến du lịch và nghiên cứu về các nhân tổ ảnh hưởng. Chen và cộng sự (2009) nghiên cứu thái độ của người dân bản địa đối với du lịch cộng đồng tại vùng đất New England, Hoa Kỳ. Nghiên cứu đặt trọng tâm trong việc tìm hiểu thái độ của người dân đến hoạt động du lịch cộng đồng và đồng thời phân tích các nhân tố xã hội tác động đến thái độ của người dân.
Tác giả tiến hành phân tích dữ liệu thu thập bằng cách sử dụng chủ yếu mô hình SET và TRA. Nhờ sự giúp đỡ của cơ quan tại địa phương, tác giả đã thu thập được 149 phiếu điều tra trực tiếp phù hợp đề làm dữ liệu trong tổng 450 phiếu được gửi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lợi ích từ du lịch cộng đồng mang lại đã ảnh hưởng thái độ tích cực của người dân là chủ yếu. Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012) với nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tô chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang, xây dựng mô hình giả định các nhân tố ảnh hưởng gồm: (1) Trình độ học vấn; (2) Quy mô gia đình; (3) Thu nhập gia đình; (4) Vốn xã hội; (5) Nghề truyền thống.
Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 135 hộ gia đình tại tỉnh An Giang. Ứng dụng mô hình hồi quy, nghiên cứu cho thấy, 5 nhân tô ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng là trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô gia đình (tác động mạnh nhất), thu nhập gia đình, vốn xã hội và nghề truyền thống. Nunkoo (2015) nghiên cứu cách sử dụng mô hình SET một cách toàn diện trong việc đánh giá sự hài lòng, thái độ của người dân đối với việc phát triển du lịch. Mô hình nay sử dung dữ liệu được thu thập từ người dân vùng Niagara, Canada.
Nghiên cứu này đã phát triển một mô hình thiết lập mối quan hệ lý thuyết giữa các yếu tố quan trọng của phát triển du lịch và hai loại niềm tin chính trị: niềm tin chính trị trong bối cảnh cụ thể của du lịch và mức độ tin cậy chính trị chung. Tác giả kết luận rằng mọi nghiên cứu về đánh giá thái độ của người dân đối với du lịch thì lựa chọn mô hình SET là mô hình phù hợp, bên cạnh đó cũng chỉ ra rằng nên kết hợp mô hình SET với một mô hình khác hoặc lý thuyết khác để tạo được một phép đo chính xác hơn. Đỗ Thiện Toàn va cộng sự (2016) sử dụng phương pháp thông kê mô tả, điểm trung bình; hệ số Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá dé nghiên cứu, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào hoạt động du lịch vườn sinh thái của hộ gia đình ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, cỡ mẫu là 120 và 21 biến quan sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 nhân tố tác động đến sự tham gia của hộ gia đình vào hoạt động du lịch vườn sinh thái bao gồm: (1) Chính sách địa phương, (2) Môi trường tự nhiên và vốn xã hội, (3) Văn hóa xã hội, (4) Nguồn lực địa phương, (5) Lợi ích kinh tế, trong đó “Lợi ích kinh tế” có tác động mạnh nhất.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao sự tham gia của hộ gia đình vào hoạt động du lịch vườn sinh thái. Meimand và cộng sự (2017) đã nghiên cứu dé tài về sự hai lòng của người dân đang sinh sống đối với phát triển du lịch dựa trên quan điểm văn hóa xã hội tại địa phương. Khảo sát trên ba khu phát triển du lịch nhà ở homestay ở Malaysia. Áp dụng mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) vao trong nghiên cứu, thu thập từ 430 phiêu câu hỏi được gửi đi cho dân làng tại ba khu vực nghiên cứu, trong đó dựa vào 1 mẫu gồm 388 phiếu điều tra, số liệu nghiên cứu được phân tích bằng cách chạy mô hình cau trúc tuyến tính.
Kết quả nghiên cứu xác định rằng nhận thức về lợi ích - chi phí mang tính xã hội, văn hóa, môi trường có tác động trực tiếp đến ý định hỗ trợ phát triển du lich, bao gom cả việc tham gia mô hình du lich homestay của người dân dia phương. Nguyễn Hoàng Hiếu và cộng sự (2020) nghiên cứu đánh giá mô hình phát triển du lịch nông nghiệp tại huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai, trên cơ sở dựa trên các phương pháp thực nghiệm quan sát đánh giá, thảo luận trực tiếp với các bên liên quan và kết hợp ý kiến chuyên gia, nghiên cứu. Chỉ ra nhu cầu của khách du lịch và sản phẩm du lịch, đồng thời có một số ưu thế cũng như nhược điểm của mô hình. Nghiên cứu là cơ sở đề đánh giá và hỗ trợ cho vấn đề quản lý cũng như xem xét nhân rộng mô hình tại một số địa bàn nông thôn Dak Po hiện nay.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương và cộng sự (2020) với nghiên cứu các yếu tố tác động tới quyết định tham gia du lịch cộng đồng của người dân địa phương tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. Tác giả khảo sát 105 người dân địa phương tại huyện Lâm Bình nhằm phân tích các nhân tố gồm: (1) Yếu tố cá nhân, (2) Tính hấp dẫn và hình ảnh điểm đến du lịch; (3) Sự hỗ trợ, đầu tư từ phía Nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp; (4) Ảnh hưởng của những người xung quanh. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 phân tích hồi quy đa biến, đánh giá độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha. Kết quả nghiên cứu cả 4 nhân tô trên đều có tác động đến quyết định tham gia du lịch cộng đồng của người dân địa phương, trong đó nhân tổ “Anh hưởng của những người xung quanh” là có tác động mạnh nhất với hệ số Beta là 0,55.
Qua đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm thu hút người dân địa phương tham gia du lịch cộng đồng và phát triển mạnh mẽ du lịch cộng đồng tại huyện Lâm Binh trong thời gian tới. Nguyễn Thái Dung (2021) sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp hồi quy Logistic và phương pháp so sánh điểm xu hướng (Propensity Score Matching) dé nghiên cứu tác động đến quyết định tham gia kinh doanh du lịch của hộ nông dân tinh Lâm Đồng. Dữ liệu khảo sát từ 189 hộ tham gia và 136 hộ không tham gia. Kết quả nghiên cứu của mô hình Logistic cho thấy các nhóm yếu tố đặc điểm chủ hộ (yêu tố trình độ học vấn); Nhóm yếu té đặc điểm trang trại (lao động, khoảng cách, vay vốn, thu nhập hộ nông dân) và nhóm yếu tố nhận thức, thái độ (nhận biết về du lịch, nhận biết về cơ hội đầu tư, nhận biết về thu hút đầu tư) có tác động đến quyết định tham gia.
Nguyễn Trọng Nhân và cộng sự (2022) với nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia phát triển du lich của người dân địa phương tại tỉnh Kiên Giang. Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 125 hộ kinh doanh dịch vụ du lịch, lao động trong ngành du lịch và chưa tham gia làm du lịch. Sử dụng kiểm định Chi - bình phương và phân tích bảng chéo được đề xử lý dữ liệu. Kết quả phân tích cả 5 yếu tố: năng lực của người dân; sự cô vũ của gia đình; sự khuyến khích và hỗ trợ của chính quyền địa phương: sự ủng hộ và tạo điều kiện của ban quản lý nơi đến du lịch; mạng lưới đường xá đều có tác động ảnh hưởng đến việc tham gia làm du lịch của người dân.
Trong đó, yếu tô “năng lực của người dân” là yếu tố nổi bật trong việc thúc day hoặc cản trở sự tham gia làm du lịch. Trần Thị Kim Bảo (2023) trong đề tài phát triển DLNT của đồng bào dân tộc Dao làng Nam Dam, xã Quan Ba, huyện Quan Ba, tỉnh Hà Giang đã xác định tam ảnh hưởng về việc phát triển du lịch gắn với nông thôn dé nâng cao đời sông của cư dân bản địa là chiến lược đúng đắn và thôn Nặm Đăm là mô hình tiêu biểu trong hoạt động du lịch này. Đề tài đã khái quát điều kiện, thực trạng phát triển DLNT, vai trò của DLNT đối với cư dân địa phương. Tác giả đề xuất nhân rộng mô hình này nhằm nâng cao đời sống xã hội của cư dân bản địa về kinh tế, chính trị, môi trường nhằm phát triển bền vững.
Nguyễn Văn Tâm và cộng sự (2024) với đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vao hoạt động DLNT ở Việt Nam - một đánh giá hệ thống đã chỉ ra sự tham gia của người dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến sự phát triển DLNT bền vững của một địa phương. Tác giả đã tập hợp, phân tích 16 công trình nghiên cứu và đã xác định được 7 yếu tô ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào hoạt động DLNT: nhận thức của người dân; điều kiện kinh tế của người dân; năng lực phục vụ du khách của người dân; lợi ích kinh tế do hoạt động du lịch mang lại; sự vào cuộc của chính quyền địa phương; cơ chế và chính sách của Nhà nước; tài nguyên du lịch của địa phương và gia đình. Lê Chí Hùng Cường và cộng sự (2024) trong bài nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tác giả sử dụng thang đo Likert 5 mức độ đề đánh giá xác định có 7 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia bao gồm: đặc điểm hộ; nhận thức của người dân về du lịch cộng đồng; lợi ích sinh kế; tài nguyên và thị trường du lịch; quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch địa phương; tô chức cộng đồng và người thân; ảnh hưởng của các sự cố bat lợi.
Kết qua phân tích chỉ tiêu “đặc điểm hộ gia đình” được đánh giá có mức anh hưởng lớn nhất, phân tích Anova một yếu tổ chỉ ra có sự khác biệt co bản về mức độ ảnh hưởng giữa các nhóm tuôi và trình độ học van.