MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đến nay, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận sau 10 năm thực hiện. Mặc dù vậy, tại nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa kết quả xây dựng NTM vẫn còn khoảng cách chênh lệch khá lớn và có xu hướng nới rộng so với các vùng, miền khác của cả nước. Đây cũng là thử thách đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của các địa phương nói trên để hoàn thành mục tiêu xây dựng NTM trong thời gian tới… Hiện cả nước vẫn còn sáu tỉnh có tỷ lệ số xã đạt chuẩn NTM dưới 20%, trong đó có năm tỉnh thuộc miền núi phía bắc gồm Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Ðiện Biên (Báo cáo tổng kết 10 năm XD NTM).
Nhu cầu xây dựng NTM của các tỉnh này rất lớn, nhưng khả năng huy động nguồn lực còn rất hạn chế vì chủ yếu là vùng nghèo, xuất phát điểm thấp, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn ít, quy mô sản xuất nông hộ còn chiếm đa số. Các địa phương mới quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng mà chưa chú trọng bố trí nguồn lực tương xứng cho các lĩnh vực trọng yếu khác. Năng lực của bộ phận cán bộ cơ sở, nhất là ở xã miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, còn hạn chế. Bên cạnh đó, tác động của thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp đã gây thiệt hại về tài sản, con người và ảnh hưởng nặng nề đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân, qua đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì các tiêu chí về hạ tầng kinh tế, xã hội, thu nhập, hộ nghèo, môi trường.
Do đó, để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư trong điều kiện ngân sách hạn chế, ngân sách các tỉnh nghèo khó khăn thì các tỉnh vùng cao cần thực hiện lồng ghép các nguồn vốn khác nhau. Trong đó, chú trọng xây dựng các giải pháp phát triển kinh tế đặc thù phù hợp với điều kiện cụ thể mỗi nơi. Tất cả các chương trình, dự án thực hiện trên địa bàn nông thôn gắn chặt với chương trình xây dựng NTM, cụ thể như lồng ghép các dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn xã hội hóa. Bên cạnh đó, đối với các tỉnh miền núi, biên giới, do điều kiện địa hình phức tạp, định mức đầu tư lớn so với các tỉnh vùng thấp nên Trung ương cũng cần tăng mức hỗ trợ vốn trực tiếp cho chương trình, nhất là vốn đầu tư phát triển… c 2 Cao Bằng được đánh giá là một trong những tỉnh có các xã biên giới đất liền nhiều nhất cả nước với tổng chiều dài đường biên giới dài 332 km, có diện tích đất tự nhiên 6.724,72 km²; có 13 huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, trong đó có 8 huyện biên giới, với 6 cửa khẩu gồm 1 của khẩu Quốc tế (Tà Lùng), 2 cửa khẩu Quốc gia (Trà Lĩnh, Pò Peo) và 3 cửa khẩu địa phương (Bí Hà, Lý Vạn và Sóc Giang), 199 xã, phường, thị trấn với dân số 540.
Năm 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 7,15% so với năm 2017, thu nhập bình quân đầu người một tháng trên địa bàn tỉnh đạt 1.856 nghìn đồng, tăng 2,88% so với năm 2017 và đến năm 2019, GRDP trên địa bàn tỉnh tăng 7,17/KH 7%, vượt kế hoạch, trong đó: lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 2,99%; lĩnh vực công nghiệp – xây dựng tăng 12,06%; lĩnh vực dịch vụ tăng 6,9%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,82%. Huyện Hạ Lang có 8/14 xã giáp biên giới, có chiều dài đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc là 72 km. Tìm hiểu nhu cầu xây dựng NTM của các xã biên giới tại huyện Hạ Lang là cơ sở để thiết lập Đề án nhằm hỗ trợ huyện Hạ Lang nói riêng và tỉnh Cao Bằng nói chung xác định được mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và định hướng thực hiện xây dựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền vững ở những thôn bản đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, từng bước cải thiện và nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nhất là của các đông bào dân tộc thiểu số; giữ gìn an ninh trật tự gắn với bảo vệ chủ quyền biên giới; đồng thời góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn và thu hẹp khoảng cách so với các địa phương khác. Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và tình hình nói trên em tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu nhu cầu xây dựng nông thôn mới tại các xã biên giới trên địa bàn huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2020 – 2025” nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển KT-XH, xóa vùng trũng về nông thôn mới tại các xã biên giới huyện Hạ Lang theo hướng khang trang hơn, đảm bảo phát huy truyền thống văn hoá các dân tộc, góp phần giảm nghèo bền vững, đảm bảo an ninh nông thôn, an ninh trên tuyến biên giới, xây dựng tuyến biên giới hoà bình, hữu nghị và là mô hình điểm để nhân rộng ra các địa phương có đường biên giới với các nước láng giềng.
Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; phân tích tình hình xây dựng nông thôn mới của các xã biên giới huyện Hạ Lang, phát hiện điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn và thách thức từ đó đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các xã biên giới. Cụ thể như sau: - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của địa bàn nghiên cứu; - Đánh giá thực trạng xây dựng NTM ở các xã biên giới huyện Hạ Lang; - Phân tích những thuận lợi, khó khăn và thách thức trong phát triển kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu; - Đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng NTM cho các xã biên giới huyện Hạ Lang giai đoạn 2020-2025. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Nâng cao nhận thức, sự hiểu biết về chương trình nông thôn mới và những chính sách liên quan đến phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay; - Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực, rèn luyện các kỹ năng và bổ sung những kiến thức còn thiếu cho bản thân.
- Là cơ hội để sinh viên áp dụng kiến thức trên giảng đường vào thực tế, vận dụng những kiến thức đã học để xử lí số liệu, viết báo cáo. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Hạ Lang. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho huyện Hạ Lang có những định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương. - Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu.
Những đóng góp mới của đề tài Đề tài là cơ sở để thiết lập đề án hỗ trợ xây dựng nông thôn mới cho các xã biên giới huyện Hạ Lang và áp dụng vào một số địa phương có điều kiện tương tự. c 4 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Các khái niệm liên quan 2.
Khái niệm Nông thôn Khi nói về nông thôn, thường thì người ta hay so sánh nông thôn với thành thị. Có ý kiến cho rằng có thể dùng chỉ tiêu dân số, mật độ dân cư để phân biệt nông thôn với thành thị. Có ý kiến đưa ra nên dùng chỉ tiêu trình độ kết cấu hạ tầng, chỉ tiêu về phát triển sản xuất hàng hoá, lại có những ý kiến cho rằng nông thôn là vùng mà ở đấy chủ yếu làm nông nghiệp. Tất cả những ý kiến trên đều đúng nhưng chưa đầy đủ.
Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, theo (Mai Thanh Cúc và Cộng sự, 2005) [16] dưới góc độ nhà quản lý có thể hiểu “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”. Theo Nghị định số 41 năm 2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 [7] của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”. Khái niệm Nông thôn mới Theo Nghị quyết số 26 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn [5], nông thôn mới được hiểu là: “Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Khái niệm về xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng gia đình, thôn, xã giàu đẹp, khang c 5 trang, sạch sẽ, phát triển toàn diện về nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Người dân có nếp sống văn hóa, môi trường sinh sống và an ninh ở vùng nông thôn được đảm bảo, đời sống vật chất và thu nhập của người dân được nâng cao và ổn định. Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp và cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề về kinh tế - xã hội mà còn bao gồm vấn đề về kinh tế - chính trị.
Theo Quyết định số 800/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ [8]: “Xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới”. Vai trò của chương trình nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội * Về kinh tế - Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập.