CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về giới tính trên thế giới Trên thế giới, vấn đề liên quan đến giới tính như: bình đẳng giới, sức khoẻ giới tính, tình yêu, tình dục,… có bề dày về nghiên cứu, thu hút nhiều nhà khoa học tìm hiểu. Có thể điểm qua một số ví dụ điển hình: Cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà khoa học ở Châu Âu đã bắt đầu tiến hành công tác nghiên cứu về tính dục của con người.
Các nhà khoa học đã bắt đầu mô toả các bất thường trong tâm lý tình dục và đồng tình với việc thực hiện các công tác tuyên truyền, giáo dục giới tính một cách chính quy. Đến đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu về giới tính được nhìn nhận nghiêm túc và khoa học. Một số nhà khoa học như “J. Kovalevxki (Nga),… không những đã gắn sự phát triển quan hệ tính dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn với cả những yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá” (Bùi Ngọc Oánh, 2008, tr.
Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, xuất hiện một làn sóng “phấn đấu vì những cải cách tính dục”: đòi quyền bình đẳng nam nữ, giải phóng hôn nhân khỏi quyền lực nhà thờ, tự do ly hôn và sử dụng các biện pháp tránh thai, giáo dục giới tính trên cơ sở khoa học,… Tuy nhiên, giai đoạn này vẫn chưa thật sự mang tính thực tiễn, khoa học. (Bùi Ngọc Oánh, 2008, tr. Ở Nga, những công trình từ năm 1903 – 1904 của D. Iakovenko mang tên “cuộc điều tra tính dục” được tiến hành, nhưng vấp phải sự phản đối của Nga hoàng.
Lênin đã nói: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách.” (Bùi Ngọc Oánh, 2008, tr. Đồng ý với quan điểm ấy, A.Makarenko cũng đã viết: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người, không 7 thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính.” (Bùi Ngọc Oánh, 2008, tr. Quan điểm của I.Kon cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc giáo dục, trang bị kiến thức giới tính cho thanh niên trước khi kết hôn.
Ở các nước Châu Âu, việc trang bị kiến thức giới tính trong gia đình và trường học được tiến hành từ rất sớm, tuy nhiên đến những năm 60 của thế kỷ XX thì mới được khẳng định và nghiên cứu. Năm 1974, Hội nghị Quốc tế về tình dục ở Giơnevo đã thảo luận đến sự cần thiết phải đưa tình dục vào giảng dạy tại các cơ sở của ngành giáo dục và y tế. Tại Pháp, giáo dục giới tính như một phần của chương trình học từ năm 1973, các trường cung cấp 30 – 40 giờ giáo dục giới tính, thậm chí còn cung cấp bao cáo sơ cho các học sinh lớp 8, 9. Năm 1983, hội nghị giáo dục giới tính ở Thuỵ Điển được thành lập.
Trong những năm 1984 – 1984, nhiều hoạt động của UNESCO đã làm sáng tỏ yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình, biên soạn nội dung chương trình về tài liệu giảng dạy về giáo dục đời sống gia đình. Ở Đức, năm 1974, một chương trình giáo dục giới tính đã được xây dựng rất tỉ mỉ, dạy từ học sinh lớp 8 với 15 chủ đề khác nhau. Tại Hà Lan, chính phủ đã tài trợ và cung cấp gói giáo dục “Tình yêu dài lâu”, được phát triển cuối thập niên 1980, có mục tiêu đào tạo cho thanh niên những kỹ năng tự đưa ra quyết định về sức khoẻ và tình dục. Với sự quyết liệt của chính phủ, hầu hết mọi trường cấp hai đều có các bài giáo dục giới tính như một phần của các buổi học sinh học và hơn một nửa các trường tiểu học được phép thảo luận về tình dục và tránh thai.
Những nội dung xoáy vào phân tích là khía cạnh sinh học của sinh sản, cũng như các giá trị, thái độ, thông tin, kỹ năng đàm phán,… Về phía truyền thông cũng được khuyên khích đối thoại và trình chiếu công khai các chương trình chăm sóc sức khoẻ để tạo một cách tiếp cận mang tính bí mật (người xem không bị phán xét) (Đinh Thị Hà, 2013). Kết quả rất khả quan khi Hà Lan được cho là nước có tỷ lệ mang thai ở thanh niên ở hàng thấp nhất thế giới, cách tiếp cận của Hà Lan cũng được nhiều nước coi là hình mẫu lý tưởng (Đ.L, 2017) 8 Ở Châu Á, tình trạng các nước tiếp cận với việc giáo dục giới tính cũng có sự khác biệt. Các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học. Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục chi tiết sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi.
Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh. Tại Trung Quốc và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thống gồm đọc về giai đoạn sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học (Chinh Phạm, 2016). Khi nghiên cứu về giới tính, ngoài những vấn đề liên quan đến giáo dục giới tính còn là những nghiên cứu về từng khía cạnh, biểu hiện của giới tính như: vấn đề phim khiêu dâm, chăm sóc cơ thể, giới tính thứ ba,… Nghiên cứu ở Zimbabwe (châu Phi) năm 1997 ở các cơ sở sức khỏe cho thấy các bạn trẻ từ 12 đến 16 tuổi thường được tham vấn với các vấn đề liên quan đến bệnh lây nhiễm qua đường tình dục nhiều hơn các bạn trẻ ở độ tuổi lớn hơn. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy các nhà tham vấn cho rằng phụ huynh của các bạn trẻ nên được biết về các vấn đề ở phòng tham vấn liên quan đến việc có thai, nhiễm HIV và đã quan hệ tình dục sớm.
Các tác giả đã làm việc với các học sinh là người chuyển giới (transgender) để trên cơ sở đó xây dựng môi trường tham vấn học đường an toàn và thoải mái cho các học sinh này (A. Khảo sát năm 2015 cho thấy các học sinh giới tính thứ ba cảm thấy yên tâm nhất khi trao đổi các vấn đề liên quan đến giới tính với các giáo viên (58%) và các chuyên gia sức khỏe tâm thần có trong trường (nhà tham vấn học đường, nhân viên công tác xã hội) (51%). Bên cạnh đó, khảo sát cũng cho thấy một số các nhân viên tham vấn vẫn còn sự thờ ơ với các vấn đề của các em (J. Nghiên cứu trên 4 trường tiểu học ở Úc cho thấy chương trình giáo dục giới tính của các trường có dạy tránh thai và các bệnh lây qua đường tình dục, nhưng chưa giải quyết cho các câu hỏi của học sinh liên quan đến bản dạng giới và xu hướng tính dục (J.
9 Nghiên cứu ở Scotland trên các nữ sinh, các nữ sinh cho rằng giáo dục giới tính ở trường học còn khá trễ và chỉ đóng vai trò bổ sung cho các nguồn mà các nữ sinh tìm kiếm kiến thức về giới tính trước đó như thông qua bạn bè, các tạp chí và thông qua việc trao đổi với mẹ của mình (K. Theo Tiến sĩ Gert Martin Hald cùng các cộng sự, cuốn sổ tay APA về tình dục và tâm lý (tập 2) đã chỉ ra rằng: Rất nhiều khảo sát quốc tế đã cho rằng tỉ lệ xem các văn hóa phẩm tình dục này đạt tỉ lệ 50 – 99% ở nam và 30 – 86% ở nữ. (Gert Martin Hald, 2014, tr 3-35) Năm 2014, nhóm tác giả Larsson đã nghiên cứu học sinh cấp ba nam và nữ tại Thụy Điển đã chỉ ra rằng 96% học sinh nam và 54 % học sinh nữ đã xem phim khiêu dâm. Khách thể khảo sát (bất kể là nam hay nữ) đều nhận thấy mặt tích cực của phim khiêu dâm.
Không có sự khác biệt giữ các nội dung khiêu dâm về việc học sinh nam và nữ đều tưởng tượng và cố gắng thực hiện các hành vi tình dục dựa trên các nội dung ấy (Larsson (cùng các cộng sự), 2014, tr 179 - 188). Nhìn chung, vấn đề giới tính đã được nghiên cứu nhiều dưới các góc độ: sức khoẻ sinh sản, bình đẳng giới,… Trải dài trên tất cả các châu lục đều có những chính sách về việc cung cấp kiến thức giới tính cho trẻ. Có những nền giáo dục còn cho trẻ từ cấp 1 tiếp cận, cũng có những nơi chưa thật sự quan tâm, vẫn còn xem việc bàn về giới tính là điều tế nhị. Nhu cầu tìm hiểu về giới tính, tình dục của ngưởi trẻ cao, một trong những cách thoả mãn là việc xem phim khiêu dâm.
Đối với việc trang bị, cung cấp kiến thức cho học sinh trung học cơ sở đã có những biện pháp tiến hành dưới dạng giáo dục giới tính. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc hỗ trợ, giải đáp, hay cụ thể là tư vấn tâm lý về giới tính cho học sinh vẫn chưa được đề cập đến. Điều này đã thúc đẩy tác giả tiến hành nghiên cứu này. Các nghiên cứu về giới tính tại Việt Nam Tư tưởng nho giáo, phong kiến đã tồn tại trên đất nước Việt Nam quá lâu, ảnh hưởng đến hệ giá trị cốt lõi của người Việt, vấn đề giới tính vốn được xem là tế nhị, khó nói.
Tuy nhiên, với sự hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, đồng thời với sự phát triển vượt bậc của ngành Y, Tâm lý, Xã hội học, Giáo dục học,… mà giới tính dần được 10 “bình thường hoá”. Điều này đã tạo tiền đề rất tích cực cho việc cung cấp kiến thức giới tính cho học sinh trung học cơ sở. Ngày 24/12/1974, Chủ tịch Phạm Văn Đồng đã ký chỉ thị số 176A, trong đó nêu rõ trách nhiệm của Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp biên soạn, đưa vào chương trình các kiến thức khoa học giới tính, hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái (Bùi Ngọc Oánh, 2008, tr. Chính chỉ thị từ cấp Chính phủ đã mở ra một kỷ nguyên, cho phép các nhà Tâm lý học, Xã hội học tiến hành nghiên cứu về vấn đề này.