ĐẶT VẤN ĐỀ “Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi ngƣời dân và của cả xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi ngƣời dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó ngành Y tế là nòng cốt”. “Xây dựng hệ thống y tế y học cổ truyền với y học hiện đại”, là chủ trƣơng chính sách của nƣớc ta [2]. “Hiện đại hóa và phát triển mạnh y, dƣợc cổ truyền trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; củng cố và phát triển tổ chức, mạng lƣới y, dƣợc cổ truyền” trong phạm vi cả nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng [37].
Trong những năm gần đây, đời sống nhân dân ngày càng đƣợc cải thiện, tuổi thọ ngƣời Việt Nam ngày càng cao. Năm 2015, tuổi thọ trung bình đạt 73,3 năm tuổi, trong khi đó tuổi sống khỏe mạnh chỉ là 66 [4]. Điều này thể hiện gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng đặc biệt là nhóm bệnh không lây nhiễm trong đó bệnh lý cơ xƣơng khớp là một trong những bệnh lý chiếm tỉ lệ lớn ở ngƣời cao tuổi, gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Theo nghiên cứu về cơ cấu bệnh tật ngƣời cao tuổi điều trị tại bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ bệnh lý về cơ xƣơng khớp là đến 11,1% [15].
Nghiên cứu tại Nghi Xuân- Thanh Hóa năm 2017 nhóm bệnh mạn tính mà ngƣời cao tuổi đang mắc có tới 40,7% là bệnh lý cơ xƣơng khớp và 70,9% ngƣời bệnh điều trị bệnh mạn tính có sử dụng YHCT[37], [38]. Nhu cầu CSSK bằng YHCT ngày càng tăng cao, theo báo cáo kết quả 5 năm thực hiện quyết định 2166/QĐ-TTg của thủ tƣớng chính phủ tỉ lệ ngƣời dân sử dụng dịch vụ YHCT để CSSK và chữa bệnh trong toàn quốc là 13,57% [5]. Theo kết quả nghiên cứu năm 2012 tại 3 tỉnh miền trung Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Định có 19,9% ngƣời bị bệnh trong vòng 6 tháng qua đã sử dụng YHCT và 43,6% sử dụng kết hợp giữa YHCT và YHHĐ. Đồng thời cũng có tới 2 92,3% số ngƣời dân đƣợc hỏi có nhu cầu khám chữa bệnh bằng YHCT [27].
Nghiên cứu năm 2017 tại ba huyện thuộc Hƣng Yên cho thấy lý do lựa chọn YHCT để điều trị bệnh mạn tính là 25,63% [37]. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra y học cổ truyền có giá trị đặc biệt trong hỗ trợ điều trị một số bệnh cơ xƣơng khớp, v. Trong khi đó xu hƣớng sử dụng y học cổ truyền cũng cao hơn ở nhóm bị mắc bệnh cơ xƣơng khớp. Ngƣời bị mắc càng nhiều bệnh cơ xƣơng khớp phối hợp thì tỷ lệ sử dụng y học cổ truyền càng cao [49], [63].
Bên cạnh đó, chi phí điều trị bằng các phƣơng pháp y học cổ truyền đã đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới nhận định rằng “Ở các nƣớc phát triển, chi phí điều trị bằng y học cổ truyền thƣờng cao hơn so với phƣơng pháp y học hiện đại do đó những ngƣời có thu nhập thấp ở các nƣớc này ít có cơ hội tiếp cận với y học cổ truyền. Ngƣợc lại, ở các nƣớc đang phát triển việc sử dụng học cổ truyền đƣợc phổ cập nhiều hơn và tầng lớp thu nhập thấp ở các nƣớc này đƣợc tiếp cận nhiều hơn với y học cổ truyền” [33]. Điều trị các bệnh cơ xƣơng khớp bằng y học cổ truyền cũng đã đƣợc chứng minh là có tính an toàn và làm giảm nguy cơ các biến chứng [33], [62]. Vậy nên, việc sử dụng y học cổ truyền trong điều trị bệnh nói chung và bệnh cơ xƣơng khớp nói riêng đặc biệt là đối với ngƣời dân sống ở nông thôn nơi có điều kiện kinh tế còn khó khăn sẽ giúp cải thiện sức khoẻ và giảm gánh nặng chi phí điều trị bệnh.
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá nhu cầu sử dụng y học cổ truyền điều trị bệnh lý cơ xương khớp tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh năm 2019” với hai mục tiêu sau đây: 1. Mô tả thực trạng ngƣời bệnh cơ xƣơng khớp tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh năm 2019. Xác định nhu cầu sử dụng thuốc y học cổ truyền của ngƣời mắc bệnh cơ xƣơng khớp tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh năm 2019. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU Bệnh cơ xương khớp: Bệnh cơ xƣơng khớp là một khái niệm chung dùng để chỉ những bệnh liên quan đến hệ xƣơng và các khớp, bệnh cơ xƣơng khớp có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên bệnh hay xảy ra ở ngƣời cao tuổi, khi mà tất cả các chức năng cơ thể dần bị thoái hóa và xƣơng khớp cũng không ngoại lệ. Từ tuổi 30 trở về trƣớc cơ thể sẽ sản sinh ra lƣợng tế bào xƣơng dồi dào nhất và vì thế bộ xƣơng sẽ ít có nguy cơ bị giòn, yếu hay gặp phải những tổn thƣơng. Tuy nhiên, sau độ tuổi 30 mọi thứ sẽ thay đổi, các tế bào xƣơng sẽ dần bị mất đi đồng nghĩa rằng sức khỏe của bộ xƣơng sẽ bị giảm sút. Những ngƣời dễ có nguy cơ bị tấn công bởi bệnh xƣơng khớp nhƣ tuổi tác cao, giới tính, do gien di truyền, những ngƣời nghiện rƣợu, mắc các bệnh lý liên quan đến ung thƣ, tiểu đƣờng, thận, khớp, gút, chế độ ăn uống và sinh hoạt nghèo nàn [1].
Thuốc y học cổ truyền (bao gồm cả vị thuốc y học cổ truyền và thuốc thang) là thuốc có thành phần là dƣợc liệu đƣợc chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phƣơng pháp của y học cổ truyền hoặc theo kinh nghiệm dân gian thành chế phẩm có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại [4]. Vị thuốc y học cổ truyền là một loại dƣợc liệu đƣợc chế biến theo lý luận và phƣơng pháp của y học cổ truyền dùng để sản xuất thuốc cổ truyền hoặc dùng để phòng bệnh, chữa bệnh [4]. Thuốc thang là một dạng thuốc cổ truyền gồm có một hoặc nhiều vị thuốc cổ truyền kết hợp với nhau theo lý luận của y học cổ truyền hoặc theo kinh nghiệm dân gian đƣợc đóng gói theo liều sử dụng [4]. 4 Thuốc thành phẩm y học cổ truyền (thuốc đông y, thuốc từ dƣợc liệu) là dạng thuốc y học cổ truyền đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả đóng gói và dán nhãn, bao gồm: Thuốc dạng viên, thuốc dạng nƣớc, thuốc dạng chè, thuốc dạng bột, thuốc dạng cao và các dạng thuốc khác [4].
Khái niệm châm cứu: Châm là dùng kim châm vào huyệt, cứu là dùng sức nóng kích thích vào một điểm trên da gọi là huyệt nhằm điều khí, giảm đau để phòng và chữa bệnh[9]. Xoa bóp bấm huyệt là phƣơng pháp phòng bệnh và chữa bệnh với đặc điểm chỉ dùng thao tác của bàn tay ngón tay tác động lên da thịt của ngƣời bệnh [9]. Khí công dưỡng sinh là sự tổng hợp một số phƣơng pháp dƣỡng sinh chữa bệnh của ngƣời xƣa qua sơ bộ chỉnh lý nâng cao đã trở thành phƣơng pháp tự rèn luyện sức khỏe phòng bệnh và chữa bệnh [9]. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CƠ XƢƠNG KHỚP CỦA NGƢỜI DÂN Ở VIỆT NAM Mô hình bệnh tật ở mỗi Quốc gia là khác nhau do đặc điểm về địa lý, tình hình phát triển, tập quán, văn hóa khác nhau.
Mô hình bệnh tật nƣớc ta vẫn là mô hình bệnh tật của các nƣớc đang phát triển, cơ cấu giữa 3 nhóm bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm, và tai nạn, thƣơng tích đã có sự thay đổi nhanh chóng trong vòng hơn 30 năm trở lại đây với sự gia tăng nhanh tỷ trọng của các bệnh không lây nhiễm (BKLN). Sự dịch chuyển các nhóm bệnh thấy rõ nhất từ năm 1976 (bệnh lây nhiễm 55,5% ca mắc, bệnh không lây nhiễm 42,65% ca mắc, tai nạn ngộ độc thƣơng tích 1,84%) đến năm 2014 (bệnh lây nhiễm giảm xuống 19,82% ca mắc, bệnh không lây nhiễm tăng lên 67,43% ca mắc, ngộ độc tai nạn thƣơng tích tăng lên 10,15% ca mắc) [37]. Cùng với tuổi thọ của ngƣời Việt Nam ngày càng đƣợc cải thiện, gánh nặng bệnh tật ở ngƣời cao tuổi cũng đang trở thành thách thức, gánh nặng bệnh 5 tật gây nên bởi bệnh không lây nhiễm ở ngƣời cao tuổi chiếm từ 87 - 89% số DALY mất đi (chỉ số DALY là gánh nặng bệnh tật thƣờng đƣợc đo lƣờng bằng chỉ số là số năm sống đƣợc điều chỉnh theo mức độ bệnh tật và tử vong). Nguyên nhân chính gây nên gánh nặng bệnh tật theo DALY ở ngƣời cao tuổi Việt Nam là ung thƣ, tim mạch, bệnh phổi mạn tính, tâm thần kinh, đái tháo đƣờng, tiết niệu, nội tiết, bệnh xƣơng khớp, rối loạn giác quan và các bệnh không lây nhiễm khác, bệnh truyền nhiễm, chấn thƣơng.
Trong đó có những bệnh ít gây tử vong nhƣng làm suy giảm chức năng nhƣ bệnh lý xƣơng khớp, bệnh tâm thần kinh [17]. BKLN là bệnh mạn tính, điều trị kéo dài và cần đƣợc nâng cao sức khỏe, đây là tiềm năng phát triển của YHCT. Các triệu chứng của ngƣời cao tuổi ở Việt Nam thƣờng gặp nhất là đau khớp, chóng mặt, đau đầu. Các bệnh không lây nhiễm ở ngƣời cao tuổi Việt Nam có tỉ lệ mắc cao nhƣ cao huyết áp khoảng gần 50%, đái tháo đƣờng 4,15% -14,59%, bệnh cơ xƣơng khớp từ 20%-69%, bệnh phổi mãn tính 10- 20%, ung thƣ 1,1% [5].
Theo kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2012, ngƣời cao tuổi điều trị nội trú mắc trung bình 2,7 bệnh. Những bệnh thƣờng gặp ở ngƣời cao tuổi lần lƣợt là: Tăng huyết áp (57,4%), Đái tháo đƣờng (23,7%), Bệnh tim thiếu máu cục bộ (19,9%), Bệnh lý cơ xƣơng khớp (11,1%), Tai biến mạch não (10,4% ), Ung thƣ (10%)…[25]. Theo nghiên cứu khác trong cộng đồng năm 2017, 2018 tại một số xã của tỉnh Hải Dƣơng tỉ lệ ngƣời mắc Đái tháo đƣờng là 8,6%, trong đó tỉ lệ mắc ở ngƣời trên 60 tuổi là 11,7%. Nhu cầu sử dụng YHCT trong CSSK ở ngƣời bệnh Đái tháo đƣờng là 19% [13].
Tỉ lệ hộ gia đình có ngƣời mắc bệnh tăng Huyết áp là 26,29%, tỉ lệ mắc ở ngƣời trên 60 tuổi là 40,06%. Với nhu cầu sử dụng YHCT trong CSSK ở gia đình có ngƣời cao huyết áp là 25,9% [7]. Về bệnh lý cơ xƣơng khớp tần suất mắc bệnh xƣơng khớp ở nƣớc ta là 47,6% ở ngƣời trên 60 tuổi [25]. Theo khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa nội cơ 6 xƣơng khớp bệnh viện Thống Nhất năm 2012-2013 cho thấy: Cơ cấu bệnh tật của khoa Nội Cơ Xƣơng Khớp gồm thoái hóa khớp, loãng xƣơng, gút, viêm khớp nhiễm khuẩn là thƣờng gặp nhất, thoái hóa khớp cao nhất (57,4%), viêm nhiều khớp (16,4%), bệnh khớp nhiễm khuẩn (10,8%), rối loạn mật độ và cấu trúc xƣơng (10,2%).