MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xã hội mỗi cá nhân đều phải lựa chọn cho mì nh một nghề nhất đị nh để tồn tại và phát triển. Đó không chỉ là phương thức sinh tồn mà còn là nơi mỗi người thực hiện ước mơ , lý tưởng của mình , đồng thời góp phần vào sự phát triển của quê hương , đất nước. Xã hội loài người càng phát triển các hình thức nghề nghiệp cà ng phong phú.
Cơ hội lựa chọn những nghề nghiệp phù hợp với điều kiện , hoàn cảnh, năng lực của bản thân ngày càng được mở rộng đối với tất cả mọi người đặc biệt là TN mọi miền Tổ quốc. Tuy vậy, cùng với cơ hội, những thách thức luôn song hành. Theo số liệu của Cục Thống kê , hiện nay , ở nước ta , dân số trong độ tuổi TN (16-30 tuổi) có khoảng 22 triệu người , chiếm gần 23% dân số cả nước , trong đó TNNT chiếm 51,1%. TNNT thôn được coi là đối t ượng dễ bị tổn thương nhất khi đất nước ra nhập WTO.
Những TNNT có được một nghề để sống chưa thật nhiều và nếu có được một nghề để sinh tồn thì thường không ổn đị nh , hoặc phải tha hương nơi đất khách quê người. Nghề của mỗi TNNT không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của bản thân , gia đì nh họ mà còn là một trong những vấn đề gây nhức nh ối xã hội. Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác đào tạo nghề, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn như Nghị quyết 37/004/QH11 ngày 03/12/2004 về giáo dục; Quyết định 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 về Hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn; Quyết định 1956/2009/QĐ-TTg về Phê duyệt đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến 2020; Nghị định 66/2006/NĐ – CP về phát triển ngành nghề nông thôn; Quyết định 103/2008-TTg về Hỗ trợ thanh niên học nghề tạo việc làm…Những chính sách trên đã cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước trong việc đáp ứng nhu cầu học nghề, tạo việc làm cho người lao động nói 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chúng và thanh niên nông thôn nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động được thoát khỏi bần cùng , làm cho mọi người có công ăn việc làm , được ấ m no và được sống một đời hạnh phúc.
“ Mọi người đều có công ăn việc làm” , có được nghề ổn định để sống đặc biệt đối với TNNT- một bộ phận không nhỏ sẽ tham gia vào công cuộc gây dựng tâm vóc non sông luôn là một trong n hững nhiệm vụ trọng tâm trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội , hội nhập và phát triển với các nước trên thế giới. Tuy vậy, hiện nay một bộ phận không nhỏ TN cũng như người lao động nông thôn vẫn quay lưng, hờ hững với việc học nghề. Để định hướng, đào tạo nghề cho TNNT, tất yếu phải dựa theo tình hình cụ thể của từng gia đình, địa phương và không tách rời chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Để TNNT có thể thực sự phát huy tối đa năng lực, sở trường, bầu nhiệt huyết của sức trẻ trong quá trình lập nghiệp thì không thể không nhìn nhận vấn đề nghề nghiệp của họ dưới lăng kính chủ quan của chính họ.
Họ mong muốn gì? Những nghề nào họ muốn được tham gia? Họ nhận thức như thế nào về vấn đề nghề nghiệp của chính bản thân họ? Điều gì ảnh hưởng đến NCHN của họ?. Huyện Kiến Thuỵ là một huyện thuần nông, với những nỗ lực phát triển nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó đặc biệt phát triển hệ thống giao thông, ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn huyện cũng như nâng cao đời sống nhân dân. Nông thôn Kiến Thuỵ đang từng ngày thay da đổi thịt. Qúa trình dịch chuyển cơ cấu lao động ở nông thôn cùng và quá trình đô thị hóa đã tạo cho người lao động nói chung cũng như thanh TNNT huyện Kiến Thụy n ói riêng có nhiều cơ hội để tìm cho mình một nghề để kiếm sống.
Tuy nhiên , bên cạnh đó họ cũng gặp phải không í t những khó khăn. Cuộc khủng hoảng tài chính, lạm phát và sự suy thoái của nền kinh tế 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn cầu từ năm 2008 đến nay, sự phá sản của nhiều doanh nghiệp, nhiều nhà máy đóng cửa kéo theo một hệ lụy đó là lao động bị mất việc làm trong số đó đa phần là TN; mất đất để lao động sản xuất do có đường cao tốc H à Nội- Hải Phòng chạy qua ; đòi hỏi của các doanh nghiệp về trình độ tay nghề ngày càng cao; tính ổn định của công việc thường thấp… Từ những điều trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu học nghề của thanh niên nông thôn huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay ” với mong muốn sẽ thu nhận được những kết quả để từ đó là một trong những cơ sở để các cấp , các ngành, các tổ chức xã hội và chính thanh niên nông thôn huyện Kiến Thụy tìm thấy lối đi trên con đường nghề nghiệp của chính mình. Mục đích nghiên cứu Chỉ ra thực trạng mức độ , các mặt biểu hiện NCHN của TNNT huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng và những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến NCHN của TNNT. Từ đó đề xuất một số kiến ngh ị Nhà nước , chính quyền đị a phương nhằm đưa ra những chủ trương, đường lối , chính sách giúp nâng cao NCHN của TNNT, giúp họ lựa chọn được những nghề phù hợp với bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, đất nước.
Đối tƣợng nghiên cứu Biểu hiện và mức độ NCHN của TNNT huyện Kiế n Thụy thành phố Hải Phòng. Khách thể nghiên cứu Tổng số khách thể nghiên cứu là: 306 người, trong đó có : - TNNT: 300 người - Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương: 6 người ( Bí thư Huyện đoàn , Bí thư xã Đoàn , Trưởng phòng Lao động -Thương binh xã hội , PGĐ Trung tâm dạy nghề huyện ). 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5.
Về nội dung Đề tài chỉ tập trung hướng tới các nội dung sau : - Mức độ và biểu hiện của NCHN của TNNT huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng : nhận thức, đối tượng hướng tới, và hành động đối với NCHN. - Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến NCHN của TNNT huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng. Về khách thể nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu những TNNT có độ tuổi từ 16-30 tuổi. Phạm vi địa bàn nghiên cứu Đề tài được tiến hành tại 10 xã thuộc huyện Kiến Thụy , trong đó xã Hữu Bằng , Minh Tân, Ngũ Đoan, Đa Phúc , Đại Đồng là những xã người dân bị mất đất do có đường cao tốc chạy qua hoặc do xây dựng khu công nghiệp ; xã Kiến Quốc, Thuận Thiên , Du Lễ, Tú Sơn, Đại Hà.
Phạm vi thời gian nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu biểu hiện và mức độ NCHN của TNNT huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng trong năm 2012. Giả thuyết nghiên cứu Hiện nay TNNT ở huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng có nhu cầu học nghề ở mức trung bình. Họ muốn học các nghề thuộc các lĩ nh vực công nghiệp, thương mại , du lị ch - dịch vụ. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến NCHN này bao gồm các yếu tố chủ quan như : ý thích , sự tự đánh giá , ý chí của bản thân mỗi TN cũng như những yếu tố khách quan như : bạn bè , gia đì nh, đị a phương, xã hội.
Trong các yếu tố này thì những yếu tố thuộc về chủ quan giữ vai trò ảnh hưởng quyết đị nh đến NCHN của TNNT huyện. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu, cụ thể : xác định những 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái niệm công cụ, các mặt biểu hiện và những yếu tố ảnh hưởng đến NCHN của TNNT huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng d ựa trên cơ sở phân tích, tổng hợp, khái quát một số tài liệu, công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài. - Khảo sát thực trạng NCHN của TNNT tại huyện Kiến Thuỵ thành phố Hải Phòng thông qua các mặt biểu hiện ( nhận thức, đối tượng của nhu cầu, và hành động thỏa mãn nhu cầu ). - Phân tích một số yếu tố tác động chủ yếu đến NCHN của TNNT - Đề xuất một số những kiến nghị nhằm phát triển, nâng cao NCHN của TNNT, giải quyết tốt hơn vấn đề học nghề, tạo việc làm cho TNNT đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương, đất nước.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp quan sát - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi - Phương pháp chuyên gia - Phương pháp phỏng vấn sâu. - Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý - Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cƣ́u 1. Các nghiên cƣ́u ở nƣớc ng oài có liên quan đến nghề và nhu cầu học nghề Vấn đề hướng nghiệp , chọn nghề được xuất hiện tương đối sớm ở Mỹ (bắt đầu từ năm 1850), gắn liền với những cá nhân như Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattell, Alfred Binet, Frank Parsons, Robert Yerkes, và E.
Nước Mỹ có phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do Frank Parsons thành lập vào năm 1908 ở Boston. Nhiệm vụ của phòng này là tư vấn cho TN có nhu cầu tìm kiếm công ăn việc làm và giúp cho họ chọn được những nghề phù hợp với năng lực, sở trường của mình. Nói một cách khác, họ giúp cho học sinh, TN lựa chọn công việc một cách khôn ngoan, và thực hiện việc di chuyển tiếp cận từ trường học đến công việc phù hợp. Hiện nay, ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tư vấn nghề với chương trình công nghệ và dạy nghề, họ cũng đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề” (Career Guidance) vào giảng dạy trong trường phổ thông.
Ở Pháp, năm 1948 đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” đề cập đến vấn đề hướng nghiệp cho TN.