đặt vấn đề: "Cái sọ đầu tiên là mệnh trời" (uý thiên mệnh) và con người phải biết mệnh trời (tri thiên mệnh) để yên phận và cũng để hành động cho đúng. Với quan niệm như vậy, người làm vua thiên hạ phải thận trọng trong hành động, phải nghĩ đến lòng dân và do đó giảm bót được mức độ áp đặt chủ quan, làm hại đến quyền dân. lrong thực tế, một ông vua nếu có đường lối, chính sách dựa vào quan niệm trên, thì dù trưóc đó ông ta có dùng súc thạnh để giành giật địa vị cũng vẫn được xem là 12 ông vua nhân đức, còn đối vói người dân thì dù cuộc sống của bản thân còn những bất công, oan ‘tc, ho van có thể chấp:nhận bề trên của mình. Nguyên lý thứ hai là người hoạt động chính trị phải lấy việc tu sửa mình làm điều đầu tiên.
Sách "Đại học" nêu lên con đường tiến thân của người làm quan là: "Tu thân,:tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”; có tu được thân, thì mdi £ề- được gia, có tề được gia, thì mới trị được quốc, có trị được quốc, thì mới bình được thiên hạ. Ö_ nguyên lý này có nhân tố hợp lý nhất định. Bỏi vì làm chính trị là néu ra được những điều cần làm cho con người và xã hội, là điều khiển con người và xã hội làm theo quan niệm của mình; và để người khác làm được điều đó, thì bản thân mình phải thục hành trước. Bề trên có làm gương, thì mới có điều kiện để đòi hỏi kẻ khác làm theo.
Nếu "thượng bất chính, thì hạ tắc loạn". Tuy nhiên, ö đây cũng có những điều không phù hợp với thực tế, khônglà phổ biến vói hết thảy mọi người, vì có người tuy "tề được gia”, nhưng không "trị được quốc”, "trị được quốc”, nhưng không "bình được thiên hạ". Để thực hiện được sự tuần tự đó, còn phụ thuộc vào tài năng của mỗi người, và con người như thế trong thiên hạ không ›hải là nhiều. Nhưng với con người có tài 13 kinh bang tế thế, thì thực hiện nguyên lý trên sẽ là điều bảo đảm cho họ thành công, là điều để họ thu hút được lòng người hướng về mình.
Nguyên lý thứ ba trong học thuyết Nho là, muốn có.cục diện dân giàu nước mạnh, thì phải thực hiện đường lối đức trị (còn gọi là nhân trị, lễ trị. Khổng Tử là người sáng lập ra đạo Nho, đã đề xuất ra tư tưởng này. Đến Mạnh Tử; tư tưởng đức trị lại được hoàn chỉnh thêm một bước và được gọi là đường lối nhân chính (còn gọi là đường lối chính trị nhân nghĩa). Đường lối này lúc mói xuất hiện đã bị các học thuyết khác phê phán, phủ nhận.
Nhưng qua sự thử thách của lịch sử, cuối cùng nó đã được xã hội phong kiến, chấp nhận. Đường lối 'nhân chính vói các nội dung: có quan tâm đến đồi sống của dân, thì dân mói theo, đối vói dan, thi phải bót hình phạt, nhẹ tô thuế, phải giáo dục dân để dân tự giác làm theo, v. đã là cö sở cho các chính quyền thân dân, gây được thiện cảm vói dân; đã là căn cú cho người dân yêu cầu người lãnh đạo mình, phải có trách nhiệm vói cuộc sống của dân. Nguyên lý trên hầu như có súc sống trọn vẹn cho đến cuộc cách mạng tư sản của Trung Quốc đầu thế kỷ XX.
_ , Nguyên lý thứ tư là con người ta ngoài lễ và 14 tam cương ra, còn phải có nghĩa, có nhân đối vói nhau. Khổng Tử nêu lên: phải yêu người, không được làm hại người, cái gì mình muốn thì làm cho người, v. Mạnh Tủ nêu lên: con người phải có lòng trắc ẩn, phải cứu vót người hoạn nạn, v. Đổng Trọng Thư nêu; lấy điều nhân làm cho người ta yên, v.
Thái độ coi trọng con: người, : yêu thương con người như trên, tuy xây dựng trên lập trường phong kiến và xen kế vói các yếu tố khác, song ở đó cũng thể hiện một ý thức trách nhiệm với con người, với xã hội, và do đó có cơ sỏ để gắn bó được con người, gắn bó được cộng đồng. Các nguyên lý trên, tuy chưa bao hàm hết các yếu tố tỉch cực của đạo Nho, nhưng đã cho thấy đó là một học thuyết có giá trị. Tư tưởng quân quyền và ý thức tôn ti trật tự, thì trong nhiều học thuyết truyền thống của Trung Quốc đều có, và mức độ mãnh liệt thì không đâu bằng Pháp gia. Nhưng tính chất nhân quyền, nhân đạo, nhân sinh thì chỉ có trong học thuyết của Nho là được trinh bay một cách cặn kế, nhiều mặt.
Vớói những nguyên lý trên, Nho học thực sự đã là một động lực ổn định và phát triển xã hội. Nó giúp chấm dút tình trạng chia cắt và chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến mà chế độ kinh tế - 15 chính trị phong kiến tông pháp kiểu Trung Quốc luôn là nguyên nhân tạo ra. Nó thống nhất được quốc gia đa dân tộc có đất rệng người đông, làm cho quốc gia này có sự cố kết bên trong và đủ sức _ chống được nạn ngoại xâm từ phương Bắc và Tây Bắc tràn tói. Nó hạn chế được một phần tốc độ -phân hóa giàu nghèo và sự bóc lột tàn nhẫn vốn gắn liền vói chế độ xã hội đó, làm cho xã hội đó có sự ổn định nhất định để phát triển sản xuất.
Chính vì vậy mà các tập đoàn phong kiến Hán tộc hay ngoại tộc (Mông Cổ, Mãn Thanh,.) ở Trung Quốc đều tôn sùng đạo Nho, đều mong qua đó có “được cơ sỏ tư tưởng để gắn bó lòng người, để xã hội có sự bình yên và thịnh vượng. Nhưng cũng phải nói rằng, Nho học là một hệ thống lý thuyết khép kín, bảo thủ. Nó lấy tiên vương, tiên thánh làm chuẩn đích, lấy Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ, Châu Công, Khổng Tủ làm mẫu mực. Nó chủ trương "Pháp cổ" (bắt chưóc đỏi xưa), "Pháp tiên vương" (bắt chước các vua đòi xưa) làm kim chỉ nam cho hành động.
Nó quạn niệm sự biến hóa của troi đất, xã hội va con người là theo vòng tuần hoàn: "Âm cực dương hồi", "bĩ cực thái lai". Thế giới khách quan và thực tiễn xã hội thì biến đổi không ngừng, làm cho nó rơi 16 vào tình trạng khủng hoảng, lung tung. Trudc tinh hình đó, giai cấp phong kiến các triều đại về sau ˆ chỉ biết tăng cường tính nghiệt ngã của các quan hệ trong "Tam cương", chỉ biết đối lập "lý" và "dục", hướng về "lý" và phê phán "dục", phê phán những nhu cầu sống vốn là bản tính tự nhiên của con người. Và một kết quả tất yếu là lý thuyết đó góp phần làm cho xã hội lâm vào sự khủng hoảng triền miên, lâm vào sự bế tắc kéo dài, làm cho Trung.
Quốc ngày càng tụt hậu so với các nước phương Tây cũng từ phong kiến đi lên. Ngoài những hạn chế thuộc về thế giói quan như trên, Nho học còn là học thuyết bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị, bảo vệ lợi ích của một dòng họ thống trị. Tuy học thuyết này nêu lên tử tưởng xem dân là gốc của nước, xem vấn đề dân là vấn đề đầu tiên trong các vấn đề quan trọng nhất của xã hội, xem mối quan hệ vua - dân là mối quan hệ cơ bản của sự ổn định chính trị, vua là thuyền, dân là nước, giữ sao cho nưóc mãi mãi chỏ thuyền, v. nhưng nó bất lực trước những vấn đề phức tạp luôn nảy sinh của xã hội, và nhất là do giai cấp phong kiến vì quyền lợi ích kỷ của triều đình, của dòng họ thống trị, đã không quản gì đến những lồi răn đạy của thánh hiền, ra sức áp bức, 2-T8059 17 bóc lột người dân.
Vì vậy, kẻ phản úng đầu tiên với giai cấp địa chủ phong kiến, vói triều đình và vói Nho học - học thuyết của giai cấp thống trị - là giai cấp nông dân. Nhiều lần trong lịch sử, nông dân đã nổi lên đấu tranh quyết liệt, kêu gọi đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đánh đổ triều đình, và cho thấy một khuynh hướng muốn bác bỏ vai trà xã hội của Nho học để xác lập vai trò thống trị của một lý thuyết khác. : Cuộc khỏi nghĩa Hoàng Cân do Truong Giác lãnh đạo nổ ra năm 184 dưới thồi Đông Hán và cuộc khỏi nghĩa Hoàng Sào do Hoàng Sào chỉ huy nổ ra năm 875 dưới thời đại nhà Đường là những cuộc khởi nghĩa nông dân nổi bật trong lịch sử Trung Quốc. Các cuộc khỏi nghĩa này làm chấn động xã hội đương thời, nhưng cuối cùng đều thất bại.
Giải thích về nguyên nhân thất bại đó, nhiều nhà sử học Trung Quốc đều cho rằng lãnh tụ của nghĩa quân không có kinh nghiệm trong tổ chức lực lượng, trong chiến đấu và trong bảo vệ kết quả đã đạt được. Nhưng có một nguyên nhân mà còn ít người đề cập, đó là các phong trào nông dân không được trang bị một hệ tư tưởng cao hơn Nho học để chỉ đường dẫn lối, do đó chỉ biết chống phá mà không biết xây dựng, chỉ biết thỏa mãn tâm lý 18 nhất thời của dân, mà không biết con đường tiến tdi trong tương lai. Lý tưởng của cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân là để cho thiên hạ thái bình, để mọi người được sống công bằng; khẩu hiệu của cuộc khỏi nghĩa Hoàng Sào là vì trăm họ, vì dân, đều là những chủ trương tốt đẹp, nhưng tư tưởng làm cơ sở cho những chủ trương đó thì chỉ là lồi sấm truyền, là bùa chú của Đạo giáo phù thủy (Thái Bình đạo của cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân), là cái gọi là "Sứ mệnh của trời” (Cuộc khỏi nghĩa Hoàng Sào). Những tư tưởng đó làm thế nào có thé quan lý được một xã hội đã phát triển như xã hội Trung Quốc đương thời, làm thế nào có thể so sánh được với Nho học.
Vì vậy hành động dưới sự lãnh dao của những tư tưởng đó không thể không đi đến thất bại. Cuộc khỏi nghĩa nông dân tiêu biểu nhất trong lịch sử Trung Quốc là cuộc khỏi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc dơ Hồng Tú Toàn (1814 - 1864) lãnh đạo, nổ ra ỏ giữa thế kỷ XIX, trên một vùng lãnh thổ rộng lón gồm nhiều tỉnh quan trọng của Trung Quốc. Cuộc khởi nghĩa này hơn hẳn các cuộc khỏi nghĩa diễn ra trong lịch sử trước đó.