Chương 1. Những vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử Chương 2. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng Chương 3. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự và nâng cao hiệu quả thực hiện.
9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI KIỂM SÁT XÉT XỬ 1. Khái niệm, đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự 1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Tất cả các quyền lực thuộc về nhân dân và nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội. Tuy nhiên, Quốc hội không thể nắm giữ và thực hiện tất cả các quyền đó mà có sự phân công, phân nhiệm và tổ chức phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền đó. VKS là một trong bốn hệ thống cơ quan nhà nước, thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp và là một thiết chế đặc thù trong tổ chức bộ máy nhà nước. Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, VKS là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập trong cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước.
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định chức năng của VKS: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”2. Như vậy có thể thấy dù ở những mức độ, phạm vi khác nhau, song VKS luôn thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố. Hai chức năng này vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau; xâm nhập, đan xen lẫn nhau, không tách rời nhau đã tạo nên tính thống nhất trong chức năng của VKS. Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự3.
Trong khi đó, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong 2 Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013; khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. 3 Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. 10 suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật4. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “nhiệm vụ” được hiểu là “công việc phải làm, gánh vác”5 hay “công việc phải làm trong một khoảng thời gian nhất định”6.
“Nhiệm vụ” là một khái niệm rộng trong đời sống xã hội. Mỗi cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ đối với cá nhân, tổ chức hoặc có nhiệm vụ (nhiệm vụ có thể ghi nhận bằng văn bản hoặc bằng lời nói) trong một công việc nhất định với một đơn vị theo sự phân công. Tuy nhiên theo từ điển luật học thì nhiệm vụ của chủ thể phải do pháp luật quy định một cách rõ ràng và ban hành thành văn, có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện đối với từng chủ thể theo từng lĩnh vực. Theo cách hiểu này thì “nhiệm vụ” nói chung là công việc mang tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện.
Nhiệm vụ của một chủ thể phải xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định. Cùng một chủ thể nhưng quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác định nhiệm vụ khác nhau. Do đó, có thể hiểu nhiệm vụ của VKSND là những hoạt động cụ thể của VKSND trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát để cùng thực hiện nhiệm vụ của bộ máy nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trong lĩnh vực TTHS, VKSND với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng thì VKS có nhiệm vụ: “thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét cử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”7.
Còn về khái niệm “quyền hạn” được hiểu là “quyền theo cương vị, chức vụ cho phép”8. Theo nghĩa thông thường thì quyền hạn được hiểu là do chủ thể tự cho 4 Khoản 1, điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. 5 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Tr. 6 Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Tr.
7 Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. 8 Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Tr. 11 mình một quyền hạn nhất định và phù hợp với hoàn cảnh của mỗi chủ thể. Quyền hạn có thể tự đặt ra hay quyền hạn do pháp luật quy định và quyền hạn mang tính quyền lực Nhà nước hay quyền hạn chỉ mang tính răn đe, giáo dục đối với từng chủ thể riêng lẻ.
Dước góc độ pháp lý quyền hạn của một cơ quan, tổ chức, cá nhân được “xác định theo phạm vi, lĩnh vực hoạt động, cấp bậc – chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật”9. Như vậy quyền hạn thường gắn với một cương vị, tư cách cụ thể và trong khoa học pháp lý “quyền hạn” sẽ gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước hoặc người có thẩm quyền của cơ quan tổ chức đó. Quyền hạn của cơ quan tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức. Còn quyền hạn của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó.
Nhiệm vụ, quyền hạn là hai khái niệm khác nhau, nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ biện chứng với nhau. Từ nhiệm vụ cụ thể pháp luật sẽ quy định cho các chủ thể có những quyền hạn gì và ngược lại từ quyền hạn sẽ khắc họa rõ nét nhiệm vụ của chủ thể. Để thực hiện tốt nhiệm vụ của VKS trong TTHS thì pháp luật TTHS phải giao cho VKS những quyền hạn nhất định để thực hiện được nhiệm vụ đó như: quy định VKS là cơ quan tiến hành tố tụng, được quyền tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyền khởi tố vụ án hình sự, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử,… Từ những phân tích trên, ta rút ra khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTHS đó là: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát là những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối với Viện kiểm sát để cùng thực hiện nhiệm vụ của Bộ máy nhà nước, có quyền quyết định thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Sau khi đã đưa ra khái niệm trên, bước tiếp theo là tìm hiểu khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật giới hạn trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
Theo từ điển Luật học thì “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ 9 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp. Như vậy xét xử sự việc gì đó là xem xét, đánh giá tất cả những chứng cứ, tình tiết có liên quan và kết luận sự việc đó, sau đó phán quyết về cách giải quyết sự việc đó. Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động TTHS, mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành: áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét vụ án hình sự; đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định đó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục.